- Cư trú - Luật pháp
- Nhập cư
600 năm trước công nguyên, thủ lĩnh thành Athen (Hy lạp) là Solon đã quyết định từ bỏ chế đô độc tài và tiến hành cải cách hiến pháp và pháp luật để bảo đảm tự do cá nhân, quyền lợi tập thể và quyền lực chính trị của người dân Athen. Sau một thời gian ngắn gián đoạn nhà chính trị Cleisthenes đã đưa ra một đường lối chính trị mới trên nguyên tắc chủ quyền thuộc về nhân dân. Đó là khởi đầu của cái ta gọi là Dân Chủ.
Nền Dân Chủ của Athen là một nền Dân chủ Trực tiếp, nhân dân trực tiếp thực hiện quyền lực của mình không qua đảng phái hoặc nghị viện. Các quyết định được đưa ra trong hội nghị công dân gồm những nam giới từ 30 tuổi trở lên. Phụ nữ và nô lệ không được tham gia quyết định. Không nền dân chủ nào sau này đạt được sự tham gia quyền lực rộng rãi của nhân dân như vậy. Mãi đến năm 1830 Hoa Kỳ mới thực hiện quyền bầu cử rộng rãi nhưng cũng chỉ mới cho nam giới.
Thời hoàng kim dân chủ của Athen kéo dài 200 năm thì kết thúc do bị sát nhập vào vương quốc Mazedonia. Sở dĩ ngày nay biết rõ nền dân chủ của Athen xưa là nhờ Aristoteles. Học giả này vốn không ưa đường lối dân chủ vì e rằng những người có đạo đức tư cách và có tri thức chỉ chiếm số ít trong số công dân và do đó quyền lực nhân dân sẽ trở thành quyền lực của thứ dân. Khó thể có tiến bộ xã hội. Ông đã viết nhiều, phân tích về nền dân chủ để lại cho đời sau, nên sau hai ngàn năm quân chủ và phong kiến, người ta lại biết đến dân chủ.
Dễ hiểu là dân chủ có thể phát huy mặt tích cực của nó chỉ khi nào từng con người xứng đáng được tham gia vào quyền lực đó. Vì vậy, quan niệm mới về con người của Immanuel Kant, John Locke, Jean-Jacques Rousseau và Charles Montesquieu tạo cơ sở cho một nền dân chủ thực sự: Với các triết gia kiêm chính trị gia này con người là một cá thể tự do và có lương tri, tức là có khả năng phân biệt đúng-sai, thiện-ác, có quyền quyết định vận mệnh của mình. Các nhà triết học đã dày công suy nghĩ về một chính thể bảo đảm không có sự áp chế cá nhân do bất kỳ một lực lượng nào. Tự do cá nhân phải được bảo đảm và trật tự xã hội phải được duy trì. Cuộc cách mạng Pháp 1789 với khẩu hiệu Tự do, Bình đẳng, Bác ái lần đầu cụ thể hóa những tiêu đề cho một nền dân chủ đặc trưng nước Pháp của thời đại ấy. Nhưng nền dân chủ thực sự hiện đại lần đầu tiên được thiết lập trên thế giới tại Hoa Kỳ cuối thế kỷ 18 tức là sau cuộc cách mạng Pháp.
Do đặc điểm của Trung Quốc, cuộc cách mạng Dân tộc Dân chủ của Tôn Trung Sơn, thủ lĩnh đảng Quốc Dân, và được kế tục do thống chế Tưởng Giới Thạch, hạn chế nền dân chủ vào ba mục tiêu lớn là Dân tộc Độc lập, Dân quyền Tự do, Dân sinh Hạnh phúc. Do cùng hoàn cảnh giống Trung Quốc, từ sau cuộc đảo chính năm 1945 nước ta cũng lấy Độc lập, Tự do, Hạnh phúc làm mục tiêu phát triển xã hội. Có lẽ cần phân biệt những ý nghĩa của khái niệm Hạnh phúc. Khác với ở châu Âu, người Trung Hoa, Việt Nam… không xem nội dung chính của Hạnh phúc chỉ là giầu sang, danh vọng, vợ đẹp con khôn mà trước hết là một cuộc sống hài hòa êm ấm với sự thỏa mãn những nhu cầu bình thường.
Đầu tiên người ta thấy rằng quân chủ và dân chủ không nhất thiết loại bỏ nhau. Tất nhiên với sự phát triển của xã hội và nền dân chủ, yếu tố quân chủ dần mất trọng lượng và trở nên một biểu tượng lịch sử. Đồng thời người ta cũng nhận ra rằng một nến dân chủ không nhất thiết phải có yếu tố Cộng hòa. Vậy Cộng hòa là gì? Cộng Hòa là cách dịch chữ Hán tối nghĩa nhất của thuật ngữ res publica (tiếng Latin), được du nhập vào ngôn ngữ Việt Nam. Đó là một thể loại Nhà Nước luôn được bầu lại sau một thời gian nhất định. Tùy tổ chức chính trị, một nền Cộng hòa có thể không Dân chủ, như do hạn chế cử tri vào một tầng lớp người nhất định chẳng hạn, và một nền Dân chủ không nhất thiết phải có phương thức Cộng hòa như thay thế bằng trưng cầu dân ý hoặc tranh đấu nghị viện để thay đổi chính phủ.
Cần phân biệt rõ Cộng Hòa là một dạng Nhà Nước còn Dân Chủ là một nguyên lý tổ chức nhà nước và xã hội.
Trong thể chế dân chủ, thường nhân dân chỉ có thể gián tiếp thực hiện quyền lực của mình thông qua các đại biểu do dân bầu ra. Ta gọi là nền Dân chủ Đại diện, vì chỉ một số nhỏ quyết định thay cho tập thể rộng lớn hoặc toàn dân. Thuy sĩ có lẽ là nước duy nhất trên thế giới thường trưng cầu dân ý (plebiszis) về những vấn đề lớn, nhưng dành quyền quyết định các vấn đề thường ngày cho các đại diện.
Một trong những nhược điểm của nền dân chủ là không thể có quyết định nhanh chóng trước một sự kiện quan trọng. Một nhà lãnh đạo muốn độc tài chỉ có cách hay nhất là đưa đất nước vào trạng thái chiến tranh, khi những quyết định luôn phải kịp thời với tình huống. Ở một số nước dân chủ châu Âu người dân am hiểu cũng lo ngại nhà nước sẽ lợi dụng chống dịch Cô Vít để tập cho dân quen dần những biện pháp độc tài và vi phạm hiến pháp như cấm hội họp, cấm biểu tình..., qua đó hủy bỏ những thành quả của Tự Do Dân Chủ trong nhiều thập kỷ qua. Một đất nước luôn được đưa vào trạng thái chuẩn bị chiến tranh cũng đồng thời làm lạc hướng sự quan tâm của người dân với những vấn đề nội trị, áp dụng một trong 36 chước của người xưa.
Dân chủ chỉ thực sự là dân chủ khi quyền bầu cử của người dân được bảo đảm, và những cuộc bầu cử phải tiến hành trên nguyên tắc tự do và bình đẳng. Tự do có nghĩa là cử tri không chịu bất cứ một áp lực nào, một hậu quả nào về quyết định chọn lựa của mình. Bình đẳng có nghĩa là các cá nhân cũng như các đảng phái được đảm bảo có những phương tiện và điều kiện như nhau trong cạnh tranh bầu cử. Không có tự do bình đẳng trong bầu cử có nghĩa là dân chủ cuội hoặc dân chủ bị lũng đoạn.
Như vậy, nhà nước, chính quyền không có trách nhiệm phân phát dân chủ mà chỉ là phương tiện thực thi đường lối dân chủ. Nghị viện, quốc hội phải là nơi tập trung thể hiện ý muốn của nhân dân và đưa ra quyết định. Ở các quốc gia đa đảng, các đảng phái cạnh tranh nhau để dành số ghế nhiều hơn trong nghị viện. Khi ấy họ có thể dễ áp đảo đảng phái đối lập khi đưa ra những quyết định giành quyền lợi cho tầng lớp dân mà họ đại diện. Trước các kỳ bầu cử, các đảng thường đưa ra những chương trình hành động có yếu tố mị dân, những đề nghị sửa đổi pháp luật mới nghe đã thấy vô lý nhưng là để tranh giành lá phiếu của một nhóm dân nào đó. Dễ hiểu là giới truyền thông dễ kiếm ăn lúc này vì có thể định hướng quần chúng trong bầu cử. Một đảng đang cầm quyền tất nhiên có thể có chính sách ưu ái truyền thông để mua chuộc sự ủng hộ. Một nhà nước pháp quyền do đó cũng không nhất thiết luôn có một nền pháp luật và chính trị tối ưu cho tất cả các từng lớp dân chúng. Khi các nhóm lợi ích đủ mạnh, họ sẽ lũng đoạn chính trị bằng tiền, nếu chưa có kết quả thì bằng rất nhiều tiền, hoặc bằng các ngón khác ... Cuối cùng thì cũng Dân nào Chính quyền ấy. Không Cải thiện Dân sinh, Nâng cao Dân trí (Phan Chu Trinh) không thể có „Dân chủ Thứ thiệt.“. Mặt khác, một chính đảng dù đặt cho mình những mục tiêu tốt đẹp đến đâu nhưng cầm quyền một dân tộc nghèo nàn, dốt nát, đầu óc bị bóp méo hàng dăm chục năm quân chủ, thuộc địa, độc tài... thì sớm muộn đảng ấy cũng bị tha hóa: Họ sẽ hạ dần tầm vóc của mình xuống xấp xỉ trình độ dân tộc.
Nói vậy không có nghĩa là nên bi quan vì không có một nền Dân chủ Lý tưởng. Con người trí tuệ có thể nghĩ ra nhiều cái hay, cái đẹp nhưng trong thực hiện khó tránh khỏi chi phối bởi thất tình (hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố và lục dục, sáu dạng thèm muốn). Đòi hỏi các bộ máy quyền lực trong xã hội hoạt động lý tưởng chẳng khác gì đòi hỏi họ đi tu chính giáo để đoạn tình, diệt dục. Coi trọng lục dục, người ta chẳng xem những phê bình, cảnh cáo hoặc nghiệp báo kiếp sau ra gì. Chỉ có thể hạn chế những xâm phạm Dân chủ, bảo đảm Dân chủ ở mức cao nhất khi có các lực lượng chính trị đối lập với lực lượng đương quyền để kiềm chế các sai lệch khỏi hiến pháp và pháp luật. Người xưa nói rằng: Tiểu nhân chỉ có tiểu nhân trị! Một đảng đối lập sẽ rình mò, bới móc trong từng sọt rác miễn là đánh đòn được đối phương. Điều kiện để có lực lượng chính trị đối lập trước hết là phải có Tự Do tư Tưởng, Tự do Ngôn luận. Từ Tự do Tư tưởng Tự do Ngôn luận sẽ dẫn đến tự do lập hội, tự do biểu tình và tự do lập đảng chính trị.
Gọi các nước phương Tây là những nước Tư bản chủ nghĩa là cách nhìn nhận đã lỗi thời. Họ là những nước do điều kiện lịch sử và địa lý mà hiểu sống động hơn chúng ta ý nghĩa từ Dân Chủ hoặc Cộng Hòa, những nguyên lý xuất phát từ thời phôi thai của nhân loại mà chúng ta chỉ hiểu như một khái niệm sách vở. Họ thực sự là những Quốc Gia Dân chủ, xây dựng trên cơ sở quyền tư hữu cũa mỗi công dân, kể cả tư hữu đất đai mà vài quốc gia chối bỏ. Không thể có một nước dân chủ mà không có hệ thống pháp luật bảo đảm sự thực thi dân chủ đến từng người dân. Vì vậy, những nước dân chủ thực sự cũng là những quốc gia pháp trị. Mức độ, khuôn khổ dân chủ hoặc pháp trị tùy thuộc sự phát triển của quốc gia đó, nhưng nếu nguyên tắc tam quyền phân lập được bảo đảm, một quốc gia có thể trong các hoàn cảnh khác nhau phụ thuộc vào sở nguyện của đa số dân chúng mà nghiêng sang tả (đường lối xã hội) hoặc sang hữu (đường lối tư hữu). Tiếng Việt thường gọi cánh Hữu hoặc Hữu khuynh với ý nghĩa từ Hữu là Bảo thủ. Ta thường cho từ Bảo thủ ý nghĩa xấu. Thực ra Bảo Thủ trong chính trị chỉ có nghĩa là giữ đường lối và tổ chức truyền thống. Còn Tả khuynh thường hàm ý muốn thay đổi. Ở các nước dân chủ phương Tây, cánh Tả hay cánh trái bao gồm những lực lượng muốn thay đổi hệ thống hiện có. Sở dĩ có phân biệt bằng các từ Tả / Hữu là do hai phái chính trị Anh Quốc có quan điểm đối lập từ xưa chia nhau ngồi hai bên phải trái trong nghị viện.
Ngày nay, người ta cho rằng các nước dân chủ phương Tây đã phát triển đến mức cực thịnh nên bắt đầu có những hiện tượng thoái trào. Hãy tưởng tượng đảng Dân chủ ở Hoa kỳ cùng với các nhóm cánh trái như Black Lives Matter thắng thế, Hoa Kỳ sẽ theo đường lối xã hội, tàn phá những cấu trúc và thành quả của xứ này hàng trăm năm qua, tuy chỉ mới bắt đầu bằng đốt xe hơi, phá cướp cửa hàng và đập các pho tượng. Các phe phái theo đường lối xã hội dễ liên kết với nhau - vì không như các phái tư hữu phải lo toan đối phó, cạnh tranh kinh tế -, họ sẽ đồng tâm nhất trí với nhau – theo ý bà Thatcher - ăn hết những gì phái tư hữu làm ra rồi sau đó thì … chỉ có trời biết.
Dipl. Ing. Lý Hoàng Khôi (Phiên dịch tuyên thệ, Berlin; lyhoangkhoi@transly.com )
04/11/2026
600 năm trước công nguyên, thủ lĩnh thành Athen (Hy lạp) là Solon đã quyết định từ bỏ chế đô độc tài và tiến hành cải cách hiến pháp và ph&
02/11/2026
600 năm trước công nguyên, thủ lĩnh thành Athen (Hy lạp) là Solon đã quyết định từ bỏ chế đô độc tài và tiến hành cải cách hiến pháp và ph&
01/11/2026
600 năm trước công nguyên, thủ lĩnh thành Athen (Hy lạp) là Solon đã quyết định từ bỏ chế đô độc tài và tiến hành cải cách hiến pháp và ph&
29/10/2026
600 năm trước công nguyên, thủ lĩnh thành Athen (Hy lạp) là Solon đã quyết định từ bỏ chế đô độc tài và tiến hành cải cách hiến pháp và ph&
24/10/2026
600 năm trước công nguyên, thủ lĩnh thành Athen (Hy lạp) là Solon đã quyết định từ bỏ chế đô độc tài và tiến hành cải cách hiến pháp và ph&
14/03/2026
600 năm trước công nguyên, thủ lĩnh thành Athen (Hy lạp) là Solon đã quyết định từ bỏ chế đô độc tài và tiến hành cải cách hiến pháp và ph&
05/11/2026
600 năm trước công nguyên, thủ lĩnh thành Athen (Hy lạp) là Solon đã quyết định từ bỏ chế đô độc tài và tiến hành cải cách hiến pháp và ph&
04/11/2026
600 năm trước công nguyên, thủ lĩnh thành Athen (Hy lạp) là Solon đã quyết định từ bỏ chế đô độc tài và tiến hành cải cách hiến pháp và ph&
27/10/2026
600 năm trước công nguyên, thủ lĩnh thành Athen (Hy lạp) là Solon đã quyết định từ bỏ chế đô độc tài và tiến hành cải cách hiến pháp và ph&
05/11/2026
600 năm trước công nguyên, thủ lĩnh thành Athen (Hy lạp) là Solon đã quyết định từ bỏ chế đô độc tài và tiến hành cải cách hiến pháp và ph&
04/11/2026
600 năm trước công nguyên, thủ lĩnh thành Athen (Hy lạp) là Solon đã quyết định từ bỏ chế đô độc tài và tiến hành cải cách hiến pháp và ph&
03/11/2026
600 năm trước công nguyên, thủ lĩnh thành Athen (Hy lạp) là Solon đã quyết định từ bỏ chế đô độc tài và tiến hành cải cách hiến pháp và ph&
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá