Trường hợp không phải đóng tiền sử dụng đất; Xác định thời điểm sử dụng đất; Nghị định 332/2026/NĐ-CP; Cấm phân lô, bán nền tại đô thị; Chung cư hết hạn bị phá dỡ

Trường hợp không phải đóng tiền sử dụng đất khi cấp sổ đỏ cho đất giao trái thẩm quyền

Bạn đọc Nguyễn Long (Hà Nội) hỏi: “Trường hợp nào không phải đóng tiền sử dụng đất khi cấp sổ đỏ cho đất được giao trái thẩm quyền?”.

Trả lời bạn đọc Báo Lao Động, Luật sư Quách Thành Lực - Giám đốc Công ty Luật Pháp Trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, đối với trường hợp người dân mua đất do thôn, xã giao trái thẩm quyền từ những năm trước, khi làm thủ tục cấp sổ đỏ, một trong những vấn đề quan trọng là xác định có phải nộp tiền sử dụng đất hay không?

Luật sư Quách Thành Lực dẫn một trường hợp thực tế về một người phụ nữ lớn tuổi mua một lô đất trong tổng số 18 lô do xã giao trái thẩm quyền. Các hộ còn lại đều đã được cấp sổ đỏ, riêng trường hợp của người phụ nữ này, dù đã được làm thủ tục cấp giấy chứng nhận nhưng cơ quan thuế yêu cầu phải nộp số tiền khoảng 5,3 tỉ đồng.

Nguyên nhân là các hộ còn lại đều có biên lai thể hiện đã nộp tiền cho UBND cấp xã khi được giao đất trái thẩm quyền. Trong khi đó, do cuộc sống khó khăn, người phụ nữ này đã làm mất giấy tờ, không còn biên lai, chứng từ chứng minh đã nộp tiền.

Theo luật sư, theo các quy định của Luật Đất đai năm 2013 và Luật Đất đai năm 2024, nếu người dân không có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được giao đất trái thẩm quyền thì có thể phải nộp 100% tiền sử dụng đất theo quy định.

Trong nhiều năm làm thủ tục cấp sổ, dù không còn biên lai, phiếu thu, người phụ nữ đã xin được nhiều tài liệu xác nhận, gồm xác nhận của các hộ xung quanh, người trực tiếp giao đất trước đây, chính quyền cấp xã và những người từng tham gia quá trình giao đất.

Theo Luật sư Quách Thành Lực, nếu không chứng minh được đã nộp tiền thì người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định tại thời điểm cấp giấy chứng nhận. Vấn đề quan trọng là xác định những tài liệu nào được pháp luật công nhận là giấy tờ chứng minh đã nộp tiền.

Trước đây, Điều 8 Thông tư số 76/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định các tài liệu chứng minh việc đã nộp tiền gồm biên lai, phiếu thu hoặc các giấy tờ khác chứng minh đã nộp tiền cho người giao đất trái thẩm quyền hoặc UBND cấp xã để được sử dụng đất.

Trong trường hợp nêu trên, người phụ nữ không còn phiếu thu, hóa đơn, chứng từ, nhưng có nhiều giấy tờ xác nhận việc đã nộp tiền.

Tuy nhiên, theo luật sư, quy định trước đây chưa cụ thể về khái niệm “giấy tờ khác”. Trong khi số tiền nghĩa vụ tài chính lên tới 5,3 tỉ đồng, cơ quan có thẩm quyền có xu hướng thận trọng trong việc xác định các giấy xác nhận có đủ giá trị chứng minh hay không, bởi nếu xác định không chính xác có thể ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước.

Hiện nay quy định pháp luật đã cụ thể và rõ ràng hơn. Điều 12 Nghị định 103/2024/NĐ-CP về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã quy định cụ thể các giấy tờ chứng minh việc đã nộp tiền để được sử dụng đất.

Ngoài biên lai, hóa đơn, chứng từ, trong trường hợp người sử dụng đất không còn các loại giấy tờ này nhưng UBND cấp xã còn lưu giữ danh sách, hồ sơ, tài liệu hoặc có xác nhận thể hiện người dân đã nộp tiền để được sử dụng đất thì những tài liệu này có thể được sử dụng làm căn cứ xem xét.

Luật sư cho rằng quy định mới đã cụ thể hóa khái niệm “giấy tờ khác” trước đây, trong đó có giấy xác nhận. Đối với trường hợp nêu trên, người dân đã có nhiều giấy xác nhận, gồm xác nhận của người trực tiếp giao đất, trưởng thôn, kế toán và UBND cấp xã. Đây là những căn cứ có thể được xem xét để xác định việc đã nộp tiền, từ đó xem xét việc không phải nộp lại tiền sử dụng đất theo quy định.

Một vấn đề khác là các quyết định liên quan đến nghĩa vụ tài chính và giải quyết khiếu nại trong vụ việc đã được ban hành từ nhiều năm trước.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/TtGkJRMxeBbEXW5Fg

Giải đáp cách xác định thời điểm sử dụng đất khi cấp sổ đỏ

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa giải đáp nguyên tắc xác định thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định.

Trên Cổng thông tin Chính phủ, một công dân tại Hà Nội thắc mắc:

"Bà N.T.B.N đề nghị giải đáp một số nội dung về cách áp dụng điểm 3 (b2) mục II nội dung C Phần V Phụ lục I Nghị định số 151/2025/NĐ-CP trong việc xác định thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định.

Một biên lai nộp thuế nhà đất được thu (lập) tại một thời điểm, nhưng nội dung ghi nghĩa vụ thuế cho một giai đoạn nhiều năm trước đó (ví dụ: thu năm 1996, ghi nghĩa vụ thuế từ quý 2 năm 1992), thì khi xác định thời điểm bắt đầu sử dụng đất, lấy theo năm ghi nghĩa vụ thuế sớm nhất hay năm thu trên biên lai?

Nguyên tắc giấy tờ hoặc thông tin có ngày, tháng, năm sử dụng đất sớm nhất được hiểu và áp dụng như thế nào đối với một biên lai thu một lần cho nhiều năm? Giấy tờ về việc thi công, xây dựng nhà ở viết tay (chỉ có chữ ký giữa các bên, không có xác nhận của cơ quan nhà nước) có được dùng làm thông tin bổ trợ để xác định thời điểm sử dụng đất hay không?".

Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:

Nội dung phản ánh của bà là vụ việc cụ thể và cần căn cứ vào hồ sơ lưu trữ, các quy định cụ thể của địa phương đã ban hành theo thẩm quyền để xem xét, giải quyết. Do đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nêu một số nguyên tắc như sau:

Quy định tại tiết b2(ii), b2(iv) điểm b khoản 3 mục II nội dung C Phần V Phụ lục I của Nghị định số 151/2025/NĐ-CP đã hướng dẫn khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất lần đầu (Giấy chứng nhận):

(i) Đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì thời điểm sử dụng đất xác định theo giấy tờ đó (tại khoản 8 Điều 137 Luật Đất đai đã quy định nếu trên giấy tờ đó có các thời điểm khác nhau thì người sử dụng đất được lựa chọn thời điểm trên giấy tờ làm căn cứ cấp Giấy chứng nhận);

(ii) Trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì việc xác nhận sử dụng đất ổn định được căn cứ vào thời gian và mục đích sử dụng tại một trong các giấy tờ sau: "+ Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất; …"; "Trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 137 Luật Đất đai và thời điểm bắt đầu sử dụng đất thể hiện trên các loại giấy tờ hoặc thông tin quy định nội dung (ii) và nội dung (iii) có sự không thống nhất thì thời điểm bắt đầu sử dụng đất được xác định theo giấy tờ hoặc thông tin có ngày, tháng, năm sử dụng đất sớm nhất"; "nếu thời điểm bắt đầu sử dụng đất thể hiện trên giấy tờ quy định tại tiết b2.(ii) nêu trên không thống nhất thì thời điểm sử dụng đất được xác định theo giấy tờ có ngày tháng năm sử dụng sớm nhất".

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/qJ5sdDTc0euFB4fBY

Nghị định 332/2026/NĐ-CP Quy định hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng

Toàn văn Nghị định 332/2026/NĐ-CP Quy định về hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc ký ban hành Nghị định 332/2026/NĐ-CP Quy định về hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng. Nghị định gồm 4 Chương, 22 Điều, có hiệu lực thi hành từ 19/8/2026.

Quy định về sản phẩm an ninh mạng

Sản phẩm an ninh mạng được quy định trong Nghị định này gồm:

1. Sản phẩm kiểm tra, đánh giá an ninh mạng là các thiết bị phần cứng, phần mềm có các tính năng hoặc được thiết kế để tích hợp các tính năng sau: Rà quét, kiểm tra, phân tích cấu hình, hiện trạng, dữ liệu nhật ký của hệ thống thông tin, thiết bị điện tử; phát hiện lỗ hổng, điểm yếu; đưa ra đánh giá rủi ro an ninh mạng.

2. Sản phẩm giám sát an ninh mạng là các thiết bị phần cứng, phần mềm có các tính năng hoặc được thiết kế để tích hợp các tính năng sau: Giám sát, phân tích dữ liệu, địa chỉ mạng, lưu lượng mạng; thu thập, phân tích dữ liệu nhật ký theo thời gian thực; phát hiện và đưa ra cảnh báo sự kiện bất thường, có nguy cơ gây mất an ninh mạng.

3. Sản phẩm chống tấn công, xâm nhập là các thiết bị phần cứng, phần mềm có tính năng hoặc được thiết kế để tích hợp các tính năng ngăn chặn tấn công, xâm nhập vào hệ thống thông tin.

4. Sản phẩm an ninh mạng khác thuộc một trong các sản phẩm sau:

a) Sản phẩm bí mật thu thập thông tin, bao gồm: Các thiết bị phần cứng, phần mềm có tính năng bí mật thu thập thông tin trên không gian mạng, trong các phương tiện, thiết bị điện tử;

b) Sản phẩm chế áp thông tin mạng, bao gồm: Các thiết bị phần cứng, phần mềm chuyên dụng để ngăn chặn, chèn, gây nhiễu, phá đường truyền Internet không dây tại các khu vực, mục tiêu cần bảo vệ;

c) Sản phẩm pháp y số, điều tra số, bao gồm: Các thiết bị phần cứng, phần mềm chuyên dụng thu thập, trích xuất, phục hồi, phân tích dữ liệu điện tử và giám định kỹ thuật số từ nguồn dữ liệu điện tử;

d) Sản phẩm chế áp hệ thống mạng, bao gồm: Các thiết bị phần cứng, phần mềm chuyên dụng để chế áp hoặc thay đổi hoạt động của mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương tiện điện tử;

đ) Sản phẩm che giấu địa chỉ IP là sản phẩm kết nối mạng giữa thiết bị và không gian mạng thông qua máy chủ từ xa nhằm che giấu địa chỉ IP thật của thiết bị trên không gian mạng.

Quy định về dịch vụ an ninh mạng

Dịch vụ an ninh mạng được quy định trong Nghị định này gồm:

1. Dịch vụ kiểm tra, đánh giá an ninh mạng là dịch vụ rà quét, kiểm tra, phân tích cấu hình, hiện trạng, dữ liệu nhật ký của hệ thống thông tin; phát hiện lỗ hổng, điểm yếu; đưa ra đánh giá rủi ro mất an ninh mạng.

2. Dịch vụ bảo mật thông tin không sử dụng mật mã dân sự là dịch vụ hỗ trợ người sử dụng đảm bảo tính bí mật của thông tin, hệ thống thông tin mà không sử dụng sản phẩm mật mã dân sự.

3. Dịch vụ tư vấn an ninh mạng là dịch vụ hỗ trợ tư vấn, kiểm tra, đánh giá, triển khai, thiết kế, xây dựng các giải pháp bảo đảm an ninh mạng.

4. Dịch vụ giám sát an ninh mạng là dịch vụ giám sát, phân tích lưu lượng dữ liệu truyền trên hệ thống thông tin; thu thập, phân tích dữ liệu nhật ký theo thời gian thực; phát hiện và đưa ra cảnh báo sự kiện bất thường, có nguy cơ gây mất an ninh mạng.

5. Dịch vụ ứng cứu sự cố an ninh mạng là dịch vụ xử lý, khắc phục kịp thời sự cố gây mất an ninh mạng đối với hệ thống thông tin.

6. Dịch vụ khôi phục dữ liệu là dịch vụ phục hồi dữ liệu trong thiết bị điện tử, hệ thống thông tin đã bị xóa hoặc hư hỏng.

7. Dịch vụ phòng ngừa, chống tấn công mạng là dịch vụ ngăn chặn các hành vi tấn công, xâm nhập vào hệ thống thông tin thông qua việc giám sát, thu thập, phân tích các sự kiện đang xảy ra trên hệ thống thông tin.

8. Dịch vụ an ninh mạng khác gồm:

a) Dịch vụ cung cấp nền tảng kết nối bảo vệ an ninh mạng là dịch vụ kết nối chuyên gia, cộng đồng trên không gian mạng tham gia nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng, an ninh dữ liệu;

b) Dịch vụ huấn luyện, diễn tập bảo vệ an ninh mạng;

c) Dịch vụ che giấu địa chỉ IP trên không gian mạng là dịch vụ cung cấp kết nối mạng giữa thiết bị và không gian mạng thông qua máy chủ từ xa nhằm che giấu địa chỉ IP thật của thiết bị trên không gian mạng;

d) Dịch vụ săn tìm và báo cáo lỗ hồng bảo mật là dịch vụ cung cấp nền tảng để tiếp nhận báo cáo phát hiện lỗ hổng bảo mật trong hệ thống thông tin của các cơ quan, tổ chức, cá nhân của chuyên gia bảo mật, cộng đồng an ninh mạng.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/no3Tre9zMaNRkSVpQ

Bộ trưởng Xây dựng: Nghiêm cấm tình trạng phân lô, bán nền tại các đô thị

Chiều 21/8, sau phần thảo luận của Quốc hội về định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023, Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh đã phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu quan tâm.

Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, với băn khoăn của đại biểu Quốc hội về chung cư có thời hạn; nhà ở, chung cư xuống cấp, tranh chấp thì tại phiên thảo luận tổ Thủ tướng Lê Minh Hưng có phát biểu về cơ sở chính trị, cơ sở thực tiễn và các điều kiện để người dân ở chung cư có những điều kiện tốt nhất.

Về giá bán, giá cho thuê và đối tượng được mua, thuê nhà ở xã hội, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết, Luật Nhà ở năm 2023 và các nghị định của Chính phủ đã quy định cụ thể về trình tự, thủ tục triển khai dự án, qua đó góp phần tháo gỡ khó khăn cho chủ đầu tư và địa phương, rút ngắn thời gian thực hiện các dự án nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê.

Quy trình được thực hiện chủ động từ khảo sát, thiết kế, lập dự án, dự toán đến lựa chọn đơn vị tư vấn, đồng thời vẫn bảo đảm vai trò quản lý, kiểm tra của Nhà nước. Sau khi Sở Xây dựng - cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng tại địa phương kiểm tra, thẩm định, chủ đầu tư mới được thực hiện việc công bố thông tin bán nhà.

Việc công khai thông tin dự án nhà ở xã hội, trong đó có thông tin liên quan đến bán nhà được triển khai trên môi trường trực tuyến và bước đầu phát huy hiệu quả tại một số địa phương. Bộ trưởng cho hay, đây được xem là giải pháp góp phần tăng tính minh bạch, giúp người dân thuận lợi hơn trong việc tiếp cận thông tin và lựa chọn nhà ở phù hợp.

Về đối tượng được mua nhà ở xã hội, Bộ trưởng cho biết, dự thảo luật quy định 11 nhóm đối tượng, trong đó có 6 nhóm thuộc diện chính sách.

Với chính sách tín dụng ưu đãi, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết "không lo" khi người mua nhà vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội được hưởng mức lãi suất hơn 2%; lãi suất đối với khoản vay tại các ngân hàng thương mại khoảng 4,62%, trong khi chủ đầu tư được vay với mức khoảng 5,62%.

Theo Bộ trưởng, đây là những mức lãi suất ưu đãi, nhân văn, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước với người dân có nhu cầu về nhà ở, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia đầu tư, phát triển nhà ở xã hội.

Một nội dung khác được đại biểu Quốc hội quan tâm là nhóm nhà ở chính sách. Theo Bộ trưởng Trần Hồng Minh, Luật Nhà ở năm 2023 chưa có quy định riêng về khái niệm “nhà ở chính sách”. Trong dự thảo luật lần này, khái niệm này được bổ sung, trong đó nhà ở xã hội được xác định là một loại hình thuộc nhóm nhà ở chính sách.

Việc phân định rõ khái niệm và phạm vi nhằm xác định cụ thể hơn đối tượng, loại hình và cơ chế chính sách đối với từng nhóm nhà ở, qua đó tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho quá trình tổ chức thực hiện.

Về chính sách nhà ở đối với lực lượng vũ trang, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng đều được áp dụng các cơ chế phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê trong hệ thống chính sách nhà ở hiện hành. Các đối tượng công tác tại vùng núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và địa bàn có điều kiện khó khăn cũng thuộc phạm vi chính sách hỗ trợ.

Bộ trưởng nhấn mạnh, yêu cầu đặt ra hiện nay là tổ chức triển khai nhanh, hiệu quả các chính sách đã được ban hành để cán bộ, chiến sĩ sớm được thụ hưởng chính sách nhà ở.

Bên cạnh lực lượng vũ trang, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cũng được thực hiện các dự án nhà ở cho thuê, nhà ở xã hội theo cơ chế, chính sách hiện hành, qua đó góp phần giải quyết nhu cầu chỗ ở cho người lao động, nhất là tại các khu vực tập trung đông công nhân.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/IQsdpigu2VXu05p7K

Chung cư hết hạn bị phá dỡ có làm chấm dứt quyền sở hữu tài sản của dân?

Đại biểu Quốc hội đề nghị Luật Nhà ở sửa đổi bổ sung nguyên tắc “nhà chung cư hết thời hạn sử dụng hoặc phải phá dỡ do không bảo đảm an toàn không làm chấm dứt quyền tài sản hợp pháp của chủ sở hữu”.

Đại biểu Thạch Phước Bình (Vĩnh Long) đề cập nội dung đang được dư luận quan tâm liên quan “chung cư có thời hạn” khi thảo luận định hướng sửa đổi Luật Nhà ở, chiều 21/8.

Ông đề nghị cân nhắc không sử dụng khái niệm này trong dự thảo luật vì đây không chỉ là câu chuyện thuật ngữ.

Không để phá dỡ chung cư xóa bỏ luôn quyền tài sản hợp pháp của dân 

“Với phần lớn người dân, căn hộ chung cư là một trong những tài sản lớn nhất được hình thành từ thu nhập tích lũy trong nhiều năm. Nếu Luật sử dụng cụm từ chung cư có thời hạn mà không giải thích thật rõ pháp lý, rất dễ tạo ra tâm lý khi hết niên hạn công trình, quyền sở hữu của người dân cũng chấm dứt”, ông Bình nói.

Đại biểu tỉnh Vĩnh Long cho rằng cần phân biệt rõ hai vấn đề. Một là thời hạn an toàn của công trình. “Khi công trình không còn bảo đảm an toàn, Nhà nước phải kiểm định, di dời và phá dỡ. Đây là yêu cầu không thể thỏa hiệp”, ông nhấn mạnh.

Vấn đề thứ hai cần phân biệt là quyền tài sản của chủ sở hữu.

Đại biểu Bình phân tích, việc một tòa nhà không còn đủ điều kiện tồn tại về mặt kỹ thuật không thể đồng nghĩa quyền tài sản hợp pháp của người đã bỏ tiền mua căn hộ tự động trở về bằng không.

“Ngay tại Nghị quyết số 21 của Trung ương cũng đặt vấn đề thời hạn sử dụng chung cư gắn liền với niên hạn công trình nhưng đồng thời yêu cầu bảo đảm quyền tài sản của chủ sở hữu”, ông Bình nói.

Đại biểu đề nghị bỏ Khoản 13 Điều 2 về chung cư có thời hạn, thống nhất sử dụng khái niệm “thời hạn sử dụng nhà chung cư”. Đồng thời, tại Điều 84 cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm “việc nhà chung cư hết thời hạn sử dụng hoặc phải phá dỡ do không còn bảo đảm an toàn không làm chấm dứt quyền tài sản hợp pháp của chủ sở hữu”.

Về nội dung xây dựng lại nhà chung cư, dự thảo đặt ra nghĩa vụ chủ sở hữu đóng góp kinh phí xây dựng lại.

Theo ông, không thể để một người cao tuổi, một gia đình thu nhập thấp đã sở hữu hợp pháp căn hộ nhưng khi xây dựng lại chung cư, họ lại đứng trước lựa chọn: hoặc có ngay khoản tiền rất lớn để đóng góp, hoặc mất khả năng tiếp tục có chỗ ở tại dự án.

Ông Bình đề nghị luật phải mở ra phương án như đóng góp theo tiến độ, tiếp cận tín dụng, nhận căn hộ phù hợp với khả năng đóng góp hoặc nhận giá trị quyền tài sản theo phương án được phê duyệt.

“Phải có cơ chế đủ mạnh để phá dỡ tòa nhà nguy hiểm, nhưng không thể để cùng với việc phá dỡ tòa nhà, quyền tài sản hợp pháp của người dân cũng bị xóa bỏ theo”, ông Bình nói.

Cũng quan tâm vấn đề này, đại biểu Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) đặt vấn đề: Nhà chung cư hết niên hạn có đồng nghĩa với việc quyền sở hữu nhà chung cư của người dân chấm dứt hay không?

Theo ông, xây dựng nhà phải có niên hạn công trình. Ví dụ, thời hạn sử dụng nhà chung cư là 50 năm theo niên hạn công trình 50 năm. Tuy nhiên, hết 50 năm đó, người sở hữu căn hộ chung cư vẫn còn quyền đối với tài sản của mình, gồm quyền sử dụng đất và các lợi ích đi kèm khác.

Vị đại biểu góp ý cần quy định rõ ràng, cụ thể để người mua phấn khởi mua nhà và nhà đầu tư cũng bán hàng dễ dàng.

Mua "chung cư có thời hạn" có thể "rẻ hơn một nửa"

Dùng quyền tranh luận nêu quan điểm, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Tạ Văn Hạ cho rằng khi người dân mua căn hộ chung cư, quyền sở hữu căn hộ đó chính là quyền sở hữu tài sản của người mua.

Nhưng thực tế, ông cũng cho rằng công trình phải có thời hạn sử dụng nhất định, không thể tồn tại vĩnh cửu. Nếu quy định rõ thời hạn sử dụng chung cư, sẽ có thêm một phân khúc nhà ở.

Ví dụ, nếu chung cư có thời hạn sử dụng là 70 hay 90 năm, người dân và người lao động có thể tiếp cận mua dễ dàng hơn, vì có thể giá bán khi đó chỉ bằng một nửa so với mức giá hiện nay - khi xem việc mua chung cư là “vĩnh viễn”.

Xem tiếp tại đường Link =>

Chung cư hết hạn bị phá dỡ có làm chấm dứt quyền sở hữu tài sản của dân?

Nguồn: Lao Động; Xây Dựng Chính Sách; Vietnamnet; Dân Trí

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Bất động sản thay đổi lớn; Chia đất đai thừa kế; Hỗ trợ thu hồi đất nông nghiệp; Chính sách đặc thù; Quy định mới về thẻ căn cước

Cấp sổ đỏ từng phần đất nghĩa trang; Đính chính sổ đỏ & đăng ký biến động; Cấp đổi sổ đỏ và sang tên thừa kế; Xác định lại hạn sử dụng đất ao sổ đỏ cũ; Luật Báo chí

Cấp sổ đất có nguồn gốc lấn, chiếm; Giảm tiềm sử dụng đất tặng con; Giao dịch online bị ngân hàng từ chối; Điều kiện lối đi tách thửa; Mất tiền cọc vì một yêu cầu

Chính sách mới có hiệu lực; Cấp sổ đỏ đất giao khoán; Xây nhà trên đất nông nghiệp; Thông báo giao dịch nội dung sau; Phạt tiền các giao dịch nhận/chuyển tiền sau

Dự thảo Luật Đất đai mới; Lưu ý thuê người giúp việc; Gỡ điểm nghẽn sửa Luật Đất đai; Đất nông nghiệp bị thu hồi; Căn cứ công nhận đất khi cấp sổ đỏ

Xử lý nhà dân xây trên đất nông nghiệp thuộc thẩm quyền cấp xã; Quy định mới cấp thẻ Căn cước; Xây nhà cấp 4 không phép bị đình chỉ; Doanh nghiệp bị thu hồi đất vì không sử dụng

3 việc nên làm Rằm tháng 7; Chính sách thu hồi đất đô thị đặc biệt; Cấp sổ đỏ đất mua bằng giấy viết tay; Lưu ý người sở hữu bất động sản; Chuyển đất nông nghiệp lên thổ cư

Thuê đất tầng hầm chung cư vượt diện tích; Giao dịch tiền số sai bị phạt; Chia tài sản thừa kế; Chuyển đất nông nghiệp lên đất thổ cư; Cấp sổ đỏ đất khai phá

Lên đầu trang