TQ, Mỹ tăng thu mua rau quả; DN khóc ròng trong vòng xoáy thủ tục; Chục nghìn căn hộ bỏ hoang; Nợ thuế đất HN tăng mạnh

RAU QUẢ TĂNG THU NHỜ TRUNG QUỐC, MỸ

Theo các doanh nghiệp, nhiều thị trường lớn như Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc đang tăng thu mua rau quả từ Việt Nam với mức tăng trưởng đều ở mức 2 con số trong nửa đầu năm. Dự báo, ngành rau quả có thể lập kỷ lục mới với mốc 7 tỷ USD trong năm nay.

Nhu cầu rau quả ở các thị trường rất lớn

Chia sẻ với PV Tiền Phong, ông Nguyễn Đình Tùng - Tổng giám đốc Vina T&T Group - cho biết, xuất khẩu trái cây của công ty đang tăng trưởng khá ấn tượng do thị trường tiêu thụ liên tục được mở rộng. Từ đầu năm đến nay, nhiều loại trái cây của công ty được thâm nhập vào các thị trường mới như Úc, New Zealand, Trung Đông… Đặc biệt, hiện Vina T&T đã đưa được trái sầu riêng cấp đông vào thị trường Mỹ và xuất khẩu vải thiều sang Thái Lan.

“Đây là thử nghiệm mới của doanh nghiệp trong năm nay. Điều này giúp công ty luôn đầy ắp đơn hàng. Trong nửa đầu năm nay, doanh thu của công ty tăng đến hai con số so với cùng kỳ năm ngoái”, ông Tùng nói.

Ông Tùng đánh giá, nhu cầu về rau quả ở các thị trường hiện rất lớn. Sản phẩm của Việt Nam nếu thâm nhập vào được, đảm bảo sự ổn định về chất lượng sẽ có chỗ đứng. Điển hình như mặt hàng sầu riêng xuất sang Trung Quốc, đơn hàng của công ty tăng đột biến, với dự kiến xuất khẩu 2.500 tấn sầu riêng tươi trong năm nay.

“Một con số chúng tôi không nghĩ có thể đạt được chỉ sau ít năm khai thác mặt hàng này”, lãnh đạo Vina T&T Group chia sẻ.

Ông Nguyễn Huy Hoàng Phát - Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Hoàng Phát Fruit - cho biết, trong gần hai tháng trở lại đây, dù cước vận chuyển tăng đột biến gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp. Song các doanh nghiệp nông sản vẫn cố gắng xuất hàng đúng theo các hợp đồng đã ký do các nước đang tăng thu mua rau quả từ Việt Nam.

Là doanh nghiệp lớn xuất khẩu thanh long, theo ông Phát, do ảnh hưởng của El Nino, sản lượng loại trái cây này toàn cầu giảm sút, tạo cơ hội cho thanh long Việt Nam thâm nhập các thị trường mới ở châu Âu, Bắc Mỹ.

Trong nửa đầu năm nay, thanh long Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ, Anh, Đức tăng gấp hơn 2 lần so với cùng kỳ năm ngoái. Thị trường Ấn Độ, Úc cũng tăng mạnh thu mua thanh long Việt.

“Năm nay, giá thanh long trong nước tăng cao, như thanh long ruột trắng mua tại vườn với giá 20.000-25.000 đồng/kg, tăng 40-50% so với cùng kỳ năm ngoái. Thanh long ruột đỏ, giá thu mua lên tới 40.000 đồng/kg. Đây là mức giá hiếm gặp. Để có nguồn nguyên liệu đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, doanh nghiệp hợp tác với bà con nông dân tại Long An, Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang, Tiền Giang... ”, ông Phát cho hay.

Dự báo cán mốc 7-7,5 tỷ USD

Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit), xuất khẩu rau quả trong tháng 6 ước đạt gần 780 triệu USD. Tính chung nửa đầu năm, xuất khẩu rau quả tăng hơn 28% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, sầu riêng, thanh long, chuối... đều tăng mạnh.

Như mặt hàng sầu riêng, chỉ trong vòng 2 tháng (tháng 5, 6) đã mang về 1,05 tỷ USD. Điều này giúp kim ngạch xuất khẩu sầu riêng trong nửa đầu năm đạt 1,5 tỷ USD.

Cùng với đó, hiện các thị trường chủ yếu của rau quả Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực. Trong đó, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của rau quả Việt Nam, ước đạt khoảng 2,2 tỷ USD (tăng 33% so với cùng kỳ năm ngoái). Đứng thứ hai là thị trường là Hàn Quốc ước đạt 180 triệu USD, tăng 57,9%. Tiếp theo là Mỹ với trị giá xuất khẩu đạt gần 150 triệu USD, tăng 32,4%.

Ông Đặng Phúc Nguyên - Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam - cho biết, vụ thu hoạch sầu riêng chính ở các tỉnh Tây Nguyên sẽ bắt đầu vào tháng 9, 10, dự kiến sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu rau quả trong thời gian tới.

Năm ngoái, đây là giai đoạn xuất khẩu sầu riêng cao kỷ lục của Việt Nam do Thái Lan hết hàng. Đặc biệt, nếu trong thời gian tới Nghị định thư xuất khẩu dừa tươi giữa Việt Nam với Trung Quốc được ký kết và triển khai, xuất khẩu mặt hàng này dự kiến bùng nổ, vượt mốc tỷ USD.

Đại diện Vinafruit dự báo, nếu tận dụng tốt các cơ hội từ các nghị định thư xuất khẩu rau quả năm nay có thể đạt 7-7,5 tỷ USD (năm ngoái 5,7 tỷ USD), mức kỷ lục mới của ngành rau quả Việt Nam.

VÒNG XOÁY THỦ TỤC KHIẾN DOANH NGHIỆP KHÓC RÒNG

Xung quanh các vấn đề nóng mà nhiều dự án đang đối mặt, như chậm xác định giá đất, điều chỉnh quy hoạch, chờ chính quyền “sửa chữa” những sai lầm trước đây, làm hao mòn “sức khỏe”, niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư, một số luật sư, chuyên gia đã chia sẻ góc nhìn và đề xuất giải pháp giải quyết.

Việc điều chỉnh thời hạn thuê đất từ 70 năm xuống 50 năm phải đáp ứng đúng quy định tại khoản 3, Điều 106, Luật Đất đai năm 2013.

Trường hợp điều chỉnh thời hạn thuê đất nhưng chưa tuân thủ quy định tại khoản 3, Điều 106, Luật Đất đai năm 2013 và gây thiệt hại cho chủ đầu tư thuê đất, thì trách nhiệm thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai và ở đây là UBND cấp tỉnh.

Đối với việc cho thuê đất không tuân thủ quy định tại khoản 3, Điều 126, Luật Đất đai năm 2013 và khi điều chỉnh không tuân thủ quy định tại khoản 3, Điều 106, Luật Đất đai năm 2013, thì trách nhiệm thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Chủ đầu tư bị xâm phạm quyền, lợi ích và bị thiệt hại có thể thực hiện việc khiếu nại hoặc khởi kiện đến tòa án nhân dân có thẩm quyền để đòi quyền lợi.

Theo Điều 126, Luật Đất đai năm 2013, chỉ những dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn mà cần thời hạn dài hơn, thì thời hạn giao đất, cho thuê đất mới lớn hơn 50 năm, nhưng không quá 70 năm.

Như vậy, đối với các dự án du lịch ven biển đã được chính quyền cho thuê đất 70 năm, sau đó điều chỉnh còn 50 năm, nhà đầu tư cần đưa ra bằng chứng cụ thể để chứng minh thiệt hại do bị kéo dài thời gian vì chờ điều chỉnh, mất cơ hội đầu tư…, thì mới có cơ sở đề nghị cơ quan quản lý nhà nước bồi thường.

Đối với giá đất, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 71/2024/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật Đất đai số 31/2024/QH15 có hiệu lực thi hành. Tuy vậy, trong nghị định này vẫn còn một số vấn đề chưa được quy định rõ. Ví dụ, về chi phí hạ tầng kỹ thuật trong định giá thặng dư, rất khó để thẩm định dự toán trước khi định giá.

Những năm trước, nhiều dự án du lịch ven biển dù sử dụng đất thương mại dịch vụ, nhưng lại được chính quyền một số tỉnh, thành phố ở miền Trung cho thuê đất đến 70 năm, sau đó điều chỉnh xuống còn 50 năm. Việc điều chỉnh này mất nhiều thời gian, khiến doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn.

Tất nhiên, trước đây, trong luật cũng đã có quy định về vấn đề này, nhưng sự vào cuộc ngăn chặn còn chưa quyết liệt. Chưa kể, một số quy định pháp luật còn nhiều kẻ hở, mâu thuẫn, chồng chéo, dẫn đến việc hiểu luật và thực thi luật chưa đồng nhất, mỗi địa phương có một cách làm khác nhau.

Ở một số nơi, thanh tra vào cuộc rà soát, phát hiện sai phạm, tiếp đó là quá trình giải trình, xử lý…, tạo ra sự trì trệ trong phát triển, thực thi quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế của địa phương.

Chúng tôi thống kê, cả nước hiện có hơn 1.000 dự án bị dừng lại để rà soát, chờ xử lý hoặc chờ có quy định mới để tháo gỡ. Trong đó, ở nhiều dự án có biểu hiện của sự buông lỏng quản lý nhà nước.

Chính quyền áp dụng sai thì phải chịu trách nhiệm, thậm chí có thể bị xử lý hình sự. Nhưng, từ trước đến giờ, chưa có trường hợp nào được đưa ra để “xem lại”, để phân tích rõ, những cái sai đó của chính quyền gây thiệt hại cho doanh nghiệp và người dân như thế nào.

Đơn cử, giai đoạn vừa qua, một số địa phương cấp sổ cho các dự án du lịch nghỉ dưỡng. Khách hàng đã căn cứ vào đó để quyết định mua sản phẩm. Đến khi thanh tra vào cuộc và kết luận việc cấp sổ là sai quy định, chính quyền “sửa” bằng cách thu hồi hoặc điều chỉnh giấy chứng nhận đã cấp.

Chính quyền cứ sai là “sửa”, còn nhà đầu tư và khách hàng thiệt hại, thì ai chịu trách nhiệm? Nếu không giải quyết được điều này sẽ dẫn đến việc người dân khiếu nại, khiếu kiện chủ đầu tư lên nhiều cấp, gây bất ổn xã hội, đặc biệt là làm mất niềm tin của nhà đầu tư, người dân với hệ thống pháp luật, cơ quan chính quyền.

Theo tôi, cần có quy định, ngoài việc xử lý vi phạm đối với những người đã thực hiện, chính quyền phải luôn sẵn sàng đối thoại và có giải pháp tháo gỡ, thậm chí phải bồi thường cho những quyết định sai. Và muốn không để tiếp tục xảy ra sai phạm, thì một trong những việc quan trọng là phải cân nhắc, bổ nhiệm cán bộ hết sức cẩn trọng, đánh giá sàng lọc một cách kỹ lưỡng.

Các quy định mới liên quan đến đất đai mới được ban hành có tính ưu việt, đồng bộ, đồng nhất hơn. Chúng tôi tin rằng, quy định rõ ràng thì sẽ hạn chế được những sai lầm, tạo ra những chiếc “barie” khiến cán bộ không thể làm sai.

Trong 4 phương pháp xác định giá đất, phương pháp thặng dư là phương pháp được thực hiện bằng cách lấy tổng doanh thu phát triển ước tính trừ đi tổng chi phí phát triển ước tính của thửa đất, khu đất trên cơ sở sử dụng đất có hiệu quả cao nhất theo quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng.

Theo quy định tại Điều 158, Luật Đất đai năm 2024 và được hướng dẫn tại Điều 6, Nghị định số 71/2024/NĐ-CP, thì về cơ bản, lấy tổng doanh thu phát triển ước tính trừ đi chi phí phát triển ước tính, sẽ ra lợi nhuận.

Nhưng thực tế chi phí không chỉ là chi phí phát triển dự án bất động sản, hay là giá trị hình thành tài sản bất động sản. Nhiều ý kiến lo ngại rằng, nếu hiểu đồng nhất lợi nhuận bằng tổng doanh thu phát triển trừ tổng chi phí phát triển, thì giá trị gốc hình thành quyền sử dụng đất không được tính, chỉ tính chi phí bắt đầu từ giai đoạn đầu tư phát triển, chứ không tính vốn mua đất, không tính tiền sử dụng đất phải nộp, dẫn đến lợi nhuận hình thức sẽ rất lớn. Lợi nhuận hình thức lớn, thì mức thuế, phí sẽ lớn, dẫn đến lợi nhuận thực tế thấp, thậm chí có thể thua lỗ. Theo đó, để đảm bảo lợi nhuận, doanh nghiệp sẽ đẩy giá bất động sản lên cao. Điều này không có lợi cho người mua nhà đất, đồng thời đẩy thị trường vào vòng xoáy bất ổn vì giá không sát thực.

Những lo ngại đó, theo tôi, là rất đáng quan tâm. Với phương pháp thặng dư mà cách tính được quy định tại Điều 6, Nghị định số 71/2024/NĐ-CP mới được ban hành, dù đã có quy định chi tiết để thay thế quy định tại khoản 8, Điều 1, Nghị định số 12/2024/NĐ-CP (bổ sung Điều 5đ, Nghị định số 44/2014/NĐ-CP), nhưng vẫn chưa thể giải quyết được đòi hỏi về việc đưa giá đất tiệm cận giá trị thực tế, bởi giá trị lãi được đẩy lên ảo, như tôi vừa phân tích.

Dù đã có quy định khá cụ thể về việc xác định giá đất, nhưng trên thực tế, vấn đề này vẫn rất rối. Nhiều tổ chức định giá còn có tâm lý “né” việc định giá liên quan đến tài sản công, đất đai liên quan các dự án sử dụng ngân sách, vì sợ làm sai thì phải chịu trách nhiệm.

Do đó, việc định giá đất không chỉ là xác định giá, mà còn mang ý nghĩa khơi thông dòng chảy pháp lý cho thị trường bất động sản. Khi thực hiện được việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bồi thường giải phóng mặt bằng, hoàn thành các nghĩa vụ tài chính đất đai…, thì các vấn đề pháp lý tiếp theo mới được chuyển động cùng.

Với những vấn đề bất cập hiện nay, theo tôi, cần có các giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, ngoài Nghị định số 71/2024/NĐ-CP, khi soạn thảo các nghị định khác hướng dẫn Luật Đất đai năm 2024, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023, Luật Nhà ở năm 2023…, cần đưa vào các quy định hướng dẫn cụ thể, quy định chi tiết có tính thống nhất để có thể kiểm soát giá trị thực trên thị trường bất động sản, bao gồm đồng bộ các giải pháp nhằm hệ thống được dữ liệu thông tin trung thực về bất động sản nói chung và giá trị bất động sản nói riêng, trong đó có giá trị quyền sử dụng đất. Việc xác định giá đất đúng cần có sự đồng bộ trong các quy định của các văn bản pháp luật liên quan đến bất động sản.

Thứ hai, Điều 8, Nghị định số 71/2024/NĐ-CP quy định các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất, là nội dung mới quan trọng để quá trình định giá đất cần xác định các vấn đề mang tính đặc thù. Vấn đề này có tính “tùy nghi” khi thực hiện, do đó, các quy định cụ thể, hoạt động định giá đất tại các địa phương phải có sự thống nhất trong việc xem xét các điều kiện, dữ liệu chuẩn để sử dụng các phương pháp xác định giá đất trên thực tế một cách khoa học, chính xác, phản ánh đúng giá trị quyền sử dụng đất theo thực tế thị trường.

Thứ ba, cần tổng lực triển khai thực hiện các quy định mới của pháp luật về đất đai, bất động sản, nhà ở một cách có hệ thống, đồng nhất và quyết liệt, để các luật này được thực thi hiệu quả trên thực tế. Giá đất được ấn định và duy trì phù hợp, phản ánh đúng giá trị thật của thị trường, không chịu sự chi phối liên quan đến các quy định của pháp luật về đầu tư, quy hoạch, điều kiện kinh doanh, điều kiện giao dịch và các quy định khác của các văn bản pháp luật khác nhau. Khi các quy định đó được thực thi hiệu quả, thị trường bất động sản vận hành đúng quy luật thị trường, thì giá bất động sản cũng về với thực chất.

GIÁ CHUNG CƯ TĂNG CAO NHƯNG CHỤC NGHÌN CĂN HỘ VẪN BỎ TRỐNG

Ông Nguyễn Thế Điệp - Phó Chủ tịch CLB Bất động sản Hà Nội - cho biết: “Trong bối cảnh người dân đang "khát" nhà ở giá rẻ nhưng hàng chục nghìn căn hộ tái định cư bỏ hoang, không người đến ở gây lãng phí lớn. Nguyên nhân xuất phát từ cơ chế làm nhà tái định cư, nhiều khu tái định cư được xây dựng ở những khu vực xa trung tâm, thiếu tiện ích và dịch vụ công cộng, đặc biệt là công ăn việc làm làm cho người đến tái định cư”.

Ông Điệp cho biết, giai đoạn vừa qua bất động sản đang có sự trầm lắng. Mặc dù thời gian tới khi Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh Bất động sản có hiệu lực giúp tháo gỡ nhiều nút thắt cho thị trường bất động sản. Tuy nhiên, ông Điệp cho rằng, thị trường bất động sản vẫn tồn tại nhiều điểm nghẽn.

Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là các cơ chế chính sách chưa đồng bộ dẫn đến thực trạng cung không đủ cầu. Các dự án không được phê duyệt, trong khi nhu cầu về nhà ở rất lớn. Hệ quả làm cho giá nhà tăng cao, nhà giá rẻ khan hiếm khiến cho người có thu nhập thấp khó chạm tới giấc mơ an cư. Ngoài ra, các thủ tục pháp lý phức tạp, kéo dài.

Theo Phó Chủ tịch CLB Bất động sản Hà Nội, hiện nay, để làm một dự án bất động sản các thủ tục chuẩn chuẩn bị có thể kéo dài 3 năm, 5 năm, thậm chí có những dự án đến 15 năm. Ách tắc pháp lý là rào cản rất lớn kìm hãm đà tăng của bất động sản.

"Trong bối cảnh người dân đang "khát" nhà ở giá rẻ nhưng hàng chục nghìn căn hộ tái định cư bỏ hoang, không người đến ở gây lãng phí lớn. Nguyên nhân xuất phát từ cơ chế làm nhà tái định cư, nhiều khu tái định cư được xây dựng ở những khu vực xa trung tâm, thiếu tiện ích và dịch vụ công cộng, đặc biệt là công ăn việc làm làm cho người đến tái định cư.

Điều này làm giảm sức hấp dẫn và gây khó khăn cho người dân trong việc di chuyển và sinh hoạt. Một số dự án tái định cư gặp vấn đề về chất lượng xây dựng như vật liệu kém chất lượng, thiết kế không hợp lý và thi công không đạt chuẩn. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến an toàn của cư dân mà còn làm giảm giá trị của các căn hộ, khiến người dân không muốn chuyển đến", ông Điệp cho hay.

Phó Chủ tịch CLB Bất động sản Hà Nội cho rằng, để thị trường bất động sản phát triển cần các cơ chế chính sách đồng bộ và tạo nguồn lực, lợi ích cho doanh nghiệp, người dân. Dẫn chứng như nhà thương mại, mặc dù giá cao nhưng nếu như tạo được động lực, phân khúc này phát triển tốt. Vậy nên, việc tháo gỡ các cơ chế chính sách là quan trọng hàng đầu, bên cạnh đó phải tạo được nguồn lực cho thị trường bất động sản phát triển.

Theo Hội Môi giới, hiện tượng nhà tái định cư bỏ hoang không còn hiếm gặp, riêng Hà Nội và TPHCM có ít nhất 13.000 căn. Nhiều khu tái định cư ở các thành phố lớn có tỷ lệ lấp đầy rất thấp, thậm chí có những tòa nhà không có người ở. Các tòa nhà đều được xây dựng với quy mô lớn, đầu tư hàng nghìn tỷ đồng, nhưng lại bị bỏ không hoặc sử dụng không hiệu quả khiến toàn bộ hạ tầng, các hạng mục bị xuống cấp nghiêm trọng.

Tại Hà Nội, thành phố cho biết có 174 khu nhà tái định cư đang được sử dụng với tổng số hơn 14.200 căn hộ. Số căn tái định cư bỏ hoang khoảng 4.000. Nhiều dự án có người dân về ở, nhưng diện tích kinh doanh dịch vụ cũng bị bỏ trống nhiều năm, không có đơn vị nào thuê hoặc sử dụng.

Còn tại TPHCM, thống kê của Sở Xây dựng cho thấy có gần 9.000 căn hộ tái định cư bỏ trống. Trong đó, riêng khu tái định cư Bình Khánh (TP Thủ Đức) có hơn 5.300 căn không có người ở, dự án Vĩnh Lộc B (huyện Bình Chánh) với hơn 2.000 căn bỏ hoang.

Theo Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam, nguyên nhân của tình trạng nhà tái định bị bỏ hoang do nhiều dự án án được xây dựng tại khu vực xa trung tâm, thiếu tiện ích gây khó khăn cho người dân trong việc di chuyển, sinh hoạt. Nhiều khu cũng thường thiếu hạ tầng cơ bản như trường học, bệnh viện, chợ...

Một số dự án gặp vấn đề về chất lượng xây dựng như vật liệu kém chất lượng, thiết kế không hợp lý và thi công không đạt chuẩn. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến an toàn của cư dân mà còn làm giảm giá trị của các căn hộ, khiến người dân không muốn chuyển đến.

NỢ THUẾ ĐẤT HÀ NỘI TĂNG MẠNH, NHIỀU DỰ ÁN NỢ 'KHỦNG' CHỜ XỬ LÝ

Ba năm liên tiếp kể từ 2021, nợ thuế đất đều tăng mạnh và vượt 50% tổng nợ ngân sách nhà nước của TP Hà Nội (năm 2023 nợ gần 15.500 tỷ đồng). Đáng chú ý, nhiều dự án có khoản nợ thuế lớn nhưng chậm xử lý, thu hồi như: Khu đô thị mới Phú Lương, tòa nhà Dreamland Plaza, khu nhà ở Thạch Bàn Lakeside...

Nợ thuế đất 'leo thang'

Ban Kinh tế - ngân sách HĐND TP Hà Nội cho biết, giai đoạn 2021 - 2023, tình hình nợ đọng ngân sách nhà nước trên địa bàn TP Hà Nội gia tăng qua các năm.

Đáng chú ý, nợ tiền thuế liên quan đến đất đều chiếm trên 50% tổng nợ ngân sách hàng năm. Đơn cử, năm 2021, nợ thuế đất khoảng 11.840 tỷ đồng, gần 56% tổng nợ. Năm 2022, số nợ thuế đất lên tới 13.545 tỷ đồng, bằng gần 58% tổng nợ và tăng lên gần 15.470 tỷ đồng trong năm 2023, chiếm gần 54% tổng nợ.

Ban Kinh tế - ngân sách cũng chỉ ra những vấn đề hình thành nên khoản nợ tiền thuế đất tồn đọng. Cụ thể, nợ nghĩa vụ tài chính về đất của một số đơn vị lớn nhưng không có khả năng nộp như Khu liên hiệp thể thao quốc gia nợ 895 tỷ đồng, Tổng công ty công nghiệp tàu thủy 173 tỷ đồng, Tổng công ty đường sắt Việt Nam 484 tỷ đồng và Công ty Á Châu 617 tỷ đồng….

Cùng với đó, 24 dự án được giao đất thu tiền sử dụng đất còn nợ khoảng 2.800 tỷ đồng tiền thuế đất. Ngoài ra, còn có khoản nợ hơn 4.000 tỷ đồng chờ xử lý liên quan đến nghĩa vụ tài chính về đất, riêng khoản này chiếm 26% tổng số tiền thuế nợ.

Đồng thời, việc xử lý các khoản nợ chờ xử lý đặc biệt quan trọng trong mục tiêu giảm tổng nợ của toàn TP. Hà Nội, nợ chờ xử lý còn lại hiện chủ yếu là các khoản vướng mắc đến nghĩa vụ tài chính về đất do các sở, ban, ngành đầu mối xử lý, nhiều trường hợp kéo dài nhiều năm, chưa xử lý dứt điểm.

Cũng theo Ban Kinh tế - Ngân sách việc đôn đốc doanh nghiệp nợ thuế đất, chây ì nhiều năm chưa có giải pháp phù hợp do nhiều doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Đến nay, nhiều công ty không có hoạt động sản xuất kinh doanh nên việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế không hiệu quả, tiền chậm nộp phát sinh rất lớn.

Hoạt động thực hiện các kết luận thanh, kiểm tra cũng gặp khó đối với một số trường hợp như doanh nghiệp phá sản, bị điều tra không có khả năng nộp nợ….

Ban Kinh tế - Ngân sách chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên, trong đó đến từ việc xác định, quản lý và đôn đốc thu hồi nợ chưa quyết liệt và chủ động.

Một nguyên nhân khác là việc giải quyết và cập nhật tiến độ giải quyết các kiến nghị, đề xuất, vướng mắc của người nộp thuế chưa kịp thời, một số trường hợp kéo dài nhiều năm, chưa giải quyết dứt điểm nhất là trong xác định, rà soát số tiền sử dụng đất phải nộp.

Có thể kể đến như: Công ty CP Đầu tư bất động sản Vinaland, Công ty TNHH VNT thực hiện dự án công viên hồ điều hòa thuộc khu đô thị Tây Nam Hà Nội,...

Lộ loạt dự án nợ thuế lớn chờ xử lý

Nhằm xử lý thực trạng trên, Ban Kinh tế - Ngân sách kiến nghị UBND TP, Ban chỉ đạo đôn đốc thu hồi nợ đọng tiền thuế, tiền sử dụng đất , tiền thuê đất trên địa bàn chỉ đạo các Sở, ban ngành phối hợp chặt chẽ với Cục thuế Hà Nội đôn đốc thu nợ thuế, phí.

Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý đối với các trường hợp cố tình vi phạm, chây ỳ không nộp thuế, phí. Tiếp tục rà soát các dự án có vướng mắc về nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất, khẩn trương giải quyết theo thẩm quyền.

Đồng thời, rà soát có chế tài xử lý các trường hợp cố tình sử dụng đất sai mục đích, chậm triển khai, cố tình chây ì thực hiện nghĩa vụ tài chính với ngân sách nhà nước.

Trường hợp nhà đầu tư không có khả năng tài chính tiếp tục triển khai dự án thì kiên quyết xử lý thu hồi dự án, quyết định giao đất, cho thuê đất để chuyển mục đích sử dụng sang đấu thầu, đấu giá, lựa chọn nhà đầu tư có năng lực, tránh lãng phí nguồn lực đất đai , thất thu ngân sách.

Ngoài ra, chỉ đạo các cơ quan liên quan rà soát, giải quyết các kiến nghị của cơ quan thuế trong quá trình giám sát của Ban.

Trong đó, có các trường hợp nợ thuế lớn, điển hình gồm: Công ty CP Đầu tư xây dựng Trung Việt đại diện liên danh nhà đầu tư dự án khu đô thị mới Phú Lương (Hà Đông); Công ty CP đầu tư bất động sản Vinaland tại dự án tòa nhà hỗn hợp văn phòng, dịch vụ và nhà ở Dreamland Plaza; Công ty cổ phần đầu tư phát triển 18 với dự án khu chung cư cao tầng và nhà ở cán bộ công nhân các khu công nghiệp;

Công ty TNHH bất động sản Thạch Bàn Lakeside với dự án khu nhà ở Thạch Bàn Lakeside; Công ty TNHH xây dựng công trình Hoàng Hà với dự án đường 2.5 đoạn Đầm Hồng đến quốc lộ 1A theo hình thức BT; Công ty TNHH Lam Sơn tại tổ hợp dịch vụ, thương mại, văn phòng và nhà ở cao cấp Phú Lãm…

Nguồn: Tiền Phong; Tin Nhanh Chứng Khoán; CafeF; Soha

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Việt Nam

Người Việt hải ngoại

EU

Thế giới

Lên đầu trang