Thuê đất tầng hầm chung cư vượt diện tích; Giao dịch tiền số sai bị phạt; Chia tài sản thừa kế; Chuyển đất nông nghiệp lên đất thổ cư; Cấp sổ đỏ đất khai phá

Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời việc thuê đất với tầng hầm chung cư vượt diện tích

Bộ Nông nghiệp và Môi trường làm rõ quy định sử dụng đất đối với tầng hầm chung cư vượt diện tích công trình trên mặt đất.

Trên Cổng thông tin Chính phủ, công dân hỏi: Công ty ông L.V.T được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án nhà ở thương mại và căn hộ chung cư để bán.

Quy hoạch chi tiết 1/500 được UBND tỉnh duyệt: tổng diện tích đất 3.000 m2, tầng hầm 2.500 m2, diện tích 2.000 m2 để xây dựng công trình, diện tích 500 m2 sử dụng mục đích công cộng đất đường giao thông nội bộ phải bàn giao cho Nhà nước khi nghiệm thu công trình.

Công ty ông T được UBND tỉnh giao đất và tính tiền sử dụng đất 2.000 m2 (năm 2016), không giao phần diện tích tầng hầm vượt so với diện tích khối nhà chung cư (2.500 m2 - 2.000 m2).

Hiện nay, UBND tỉnh căn cứ khoản 1 Điều 216 Luật Đất đai năm 2024 để yêu cầu công ty lập hồ sơ xin thuê đất đối với phần diện tích xây dựng công trình ngầm vượt khỏi ranh giới phần công trình xây dựng trên mặt đất.

Ông T hỏi, như vậy có phù hợp với quy định của pháp luật không?

Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:

Tại khoản 28 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 giải thích từ ngữ: "Đất để xây dựng công trình ngầm là phần đất để xây dựng công trình trong lòng đất mà công trình này không phải là phần ngầm của công trình xây dựng trên mặt đất".

Tại khoản 6 Điều 2 Nghị định số 39/2010/NĐ-CP quy định về quản lý không gian xây dựng ngầm đô thị định nghĩa: "Phần ngầm của các công trình xây dựng trên mặt đất" là tầng hầm (nếu có) và các bộ phận của công trình nằm dưới mặt đất.

Tại khoản 1 Điều 216 Luật Đất đai năm 2024 quy định: "Đất xây dựng công trình ngầm bao gồm đất xây dựng công trình trên mặt đất phục vụ cho việc vận hành, khai thác sử dụng công trình ngầm và không gian dưới lòng đất để xây dựng công trình trong lòng đất mà công trình này không phải là phần ngầm của công trình xây dựng trên mặt đất".

Tại khoản 1 Điều 145 Luật Đất đai năm 2013 quy định: "Đất xây dựng khu chung cư bao gồm đất để xây dựng nhà chung cư, xây dựng các công trình phục vụ trực tiếp cho đời sống của những hộ gia đình trong nhà chung cư và các công trình phục vụ cộng đồng theo quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt".

Như vậy, từ các định nghĩa trên phần tầng hầm chung cư không phải là đất xây dựng công trình ngầm theo quy định của pháp luật, không thuộc trường hợp thuê đất.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/MnFKWuS9yXi0QociJ

Từ 1/9, cá nhân giao dịch tiền số sai quy định bị phạt 100 triệu đồng

Từ ngày 1/9, với giao dịch tài sản mã hóa: cá nhân vi phạm bị phạt 100 triệu đồng, tổ chức vi phạm có thể bị phạt đến 200 triệu đồng.

Theo quy định mới về thị trường tài sản mã hóa (tiền số), từ ngày 1/9, cung cấp dịch vụ liên quan đến tài sản mã hóa khi chưa được cấp phép bị phạt tới 200 triệu đồng.

Cá nhân vi phạm bị phạt 100 triệu đồng, tổ chức có thể bị phạt 200 triệu đồng

Cụ thể, căn cứ khoản 4 Điều 7 Nghị định 284/2026/NĐ-CP, đối với các vi phạm về tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa, Nghị định quy định phạt tiền từ 180-200 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

Thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ liên quan đến tài sản mã hóa khi chưa được cấp giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa;

Quảng cáo, tiếp thị liên quan đến tài sản mã hóa khi chưa được cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa.

Mức phạt tiền quy định trên đây được áp dụng đối với tổ chức. Trường hợp cá nhân có hành vi vi phạm như của tổ chức thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức.

Cùng với đó, tổ chức phát hành tài sản mã hóa cho đối tượng không đúng quy định bị phạt từ 150-200 triệu đồng. Bên cạnh tiền phạt, tổ chức vi phạm bị đình chỉ hoạt động chào bán, phát hành tài sản mã hóa từ 6-12 tháng; đồng thời phải hủy bỏ đợt chào bán, phát hành và hoàn trả toàn bộ số tiền đã thu.

Căn cứ điều 9 Nghị định 284/2026/NĐ-CP quy định, phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng đối với nhà đầu tư trong nước giao dịch tài sản mã hóa không thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa do Bộ Tài chính cấp phép theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP.

Phạt tiền từ 70 triệu đồng đến 100 triệu đồng đối với nhà đầu tư trong nước giao dịch tài sản mã hóa được chào bán, phát hành cho nhà đầu tư nước ngoài theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP.

Việt Nam là một trong những quốc gia đứng top đầu thế giới về sở hữu và giao dịch tài sản số

Được biết, tiền mã hóa (tiền số) là một trong những kênh đầu tư sôi động trên thế giới. Tại Việt Nam, rất nhiều người trẻ cũng gia nhập đầu tư trên toàn cầu.

Theo một thống kê, Việt Nam là một trong những quốc gia thuộc nhóm đầu thế giới về sở hữu và giao dịch tài sản số (khoảng 17 triệu người), trong đó, xếp top 5 thế giới về quan tâm tài sản số và top 3 về sử dụng sàn quốc tế.

Dù vậy, tài sản mã hóa là lĩnh vực mới và tiềm ẩn nhiều rủi ro, vì vậy việc triển khai thị trường phải được thực hiện theo hướng thận trọng, có kiểm soát và từng bước hoàn thiện chính sách. Mọi hoạt động đều phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, đồng thời bảo đảm an ninh, an toàn cho hệ thống tài chính.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/HoG8iFvAvwMmhOYLH

Chia tài sản thừa kế như thế nào nếu không có di chúc?

Theo luật sư, khi cha mẹ mất mà không để lại di chúc hợp pháp hoặc di chúc không có hiệu lực đối với toàn bộ hay một phần di sản, việc chia thừa kế có thể được thực hiện theo pháp luật.

Cha mẹ có thể để lại một căn nhà, mảnh đất hay khoản tiền tích cóp cả đời cho các con. Nhưng trong không ít vụ tranh chấp thừa kế, thứ bị chia cắt sau cùng không chỉ là tài sản mà còn là tình thân.

Từ những vụ việc từng trực tiếp tiếp xúc, các chuyên gia cho rằng pháp luật có thể phân định quyền đối với di sản, nhưng không bản án nào có thể buộc những người từng là anh chị em trở lại như xưa.

Căn nhà từng là mái ấm,lại trở thành "chiến trường"

Theo luật sư Hạ Thị Thu Thảo, Đoàn luật sư TP.HCM, điều khiến cô day dứt trong những vụ tranh chấp thừa kế không hẳn là giá trị di sản mà là những câu chuyện phía sau các lá đơn khởi kiện.

Trong quá trình hành nghề, luật sư Thu Thảo từng gặp một người phụ nữ là chị cả trong gia đình có 10 người con. Từ nhỏ, bà đã thay cha mẹ chăm sóc các em. Mười anh chị em sau đó trưởng thành, mỗi người một nơi, khi người cha qua đời, tranh chấp bắt đầu phát sinh quanh khối di sản là nhà đất.

Một số người con không được đưa vào danh sách những người thừa kế. Một số thành viên khác từ chối nhận phần di sản của cha để người mẹ được hưởng toàn bộ. Tuy nhiên, căn nhà sau đó được dùng làm tài sản bảo đảm cho khoản vay của một người con. Khi khoản vay không thể thanh toán, căn nhà của cha mẹ đứng trước nguy cơ bị xử lý.

Thương mẹ và không muốn căn nhà bị mất, người chị cả chấp nhận bán căn nhà mình đang ở để gom tiền giải quyết khoản nợ, giữ lại nơi ở cho mẹ và cũng là nơi lưu giữ tuổi thơ của 10 anh chị em.

Nhưng rồi tranh chấp thừa kế tiếp tục phát sinh. Những cuộc họp gia đình không còn tiếng cười mà trở thành những cuộc tranh luận về quyền hưởng di sản, công sức chăm sóc cha mẹ, tiền sửa chữa nhà, những tài sản từng được cho riêng...

Căn nhà từng là nơi 10 anh chị em lớn lên trở thành "chiến trường". Những người thân ngăn cản nhau vào nhà, những lời nói tổn thương được thốt ra trong lúc nóng giận.

Phía sau những tập hồ sơ là những tổn thương không thể đo đếm bằng tiền. Đặc biệt, hình ảnh người mẹ già, sức khỏe suy yếu, phải ngồi xe lăn nhưng vẫn chứng kiến cảnh các con tranh chấp khiến luật sư day dứt.

"Có lẽ đối với những người làm cha làm mẹ, không có nỗi đau nào lớn hơn việc nhìn những đứa con mà mình từng sinh ra, nuôi dưỡng lại trở thành những người đối đầu", luật sư Thu Thảo chia sẻ.

Chia tài sản như thế nào nếu không có di chúc?

Theo luật sư Phùng Văn Hiệu, Đoàn luật sư TP.HCM, điều đáng tiếc nhất trong nhiều vụ tranh chấp thừa kế không nằm ở giá trị di sản. Có gia đình trước khi cha mẹ mất vẫn qua lại bình thường. Nhưng khi phải bàn chuyện chia căn nhà, những chuyện từ nhiều năm trước bắt đầu được nhắc lại.

Người nói mình trực tiếp chăm sóc cha mẹ nên phải được hưởng nhiều hơn. Người khác cho rằng mình cũng là con và pháp luật không thể vì ở gần hay ở xa cha mẹ mà tước quyền thừa kế. Chuyện ai từng gửi tiền về, ai được cha mẹ cho đất, ai ít về thăm nhà... đều được đưa ra tính toán. "Ban đầu là tranh chấp tài sản. Sau đó lại thành tranh chấp tình cảm", luật sư Hiệu nói.

Về pháp lý, theo luật sư Thu Thảo, khi cha mẹ mất mà không để lại di chúc hợp pháp hoặc di chúc không có hiệu lực đối với toàn bộ hay một phần di sản, việc chia thừa kế có thể được thực hiện theo pháp luật.

Theo điều 651 bộ luật Dân sự 2015, hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Những người cùng hàng về nguyên tắc được hưởng phần di sản bằng nhau.

Tuy nhiên, tranh chấp thừa kế hiếm khi đơn giản như một phép tính chia. Trước khi xác định mỗi người được hưởng bao nhiêu, phải làm rõ tài sản nào là di sản, đâu là tài sản chung, tài sản riêng và nghĩa vụ tài sản của người chết.

Còn luật sư Hiệu lưu ý, nếu căn nhà là tài sản chung của cha mẹ thì khi một người mất, không thể mặc nhiên lấy toàn bộ căn nhà để chia thừa kế. Phải xác định phần tài sản của người còn sống và phần của người đã mất; chỉ phần của người đã mất mới là di sản.

Tương tự, nếu cha mẹ đã tặng cho một người con tài sản và việc tặng cho đã có hiệu lực thì tài sản đó về nguyên tắc không còn là di sản. Ngược lại, việc chỉ nói miệng "sau này căn nhà để lại cho con út" nhưng không lập di chúc hoặc hoàn tất việc tặng cho có thể trở thành nguồn cơn tranh chấp.

"Những vụ như vậy thường rất khó ở chỗ một bên nói về tình, một bên nói về quyền", luật sư Hiệu nói.

"Cha mẹ nên chủ động xác định rõ tài sản, lập di chúc"

Một vấn đề thường gây tranh cãi trong hầu hết các vụ tranh chấp thừa kế là công sức của người trực tiếp chăm sóc cha mẹ.

Theo luật sư Phùng Văn Hiệu, người sống chung và chăm sóc cha mẹ nhiều năm có thể cảm thấy không công bằng nếu phần di sản của mình bằng người ít chăm sóc cha mẹ hơn. Tuy nhiên, việc chăm sóc cha mẹ không đồng nghĩa với việc đương nhiên được hưởng phần lớn di sản.

Trong một số trường hợp, công sức quản lý, bảo quản di sản hoặc những đóng góp liên quan đến tài sản có thể được xem xét nếu có căn cứ chứng minh.

Ở chiều ngược lại, những người con sống xa cũng cần nhìn vào sự hy sinh của người ở lại. Nếu chỉ nói "pháp luật chia đều" mà không ghi nhận những đóng góp thực tế thì về tình cũng khó thuyết phục.

Bởi vậy, các luật sư cho rằng cha mẹ nên chủ động xác định rõ tài sản riêng, tài sản chung, tài sản đã tặng cho con và lập di chúc rõ ràng nếu có mong muốn phân chia cụ thể.

Khi cha mẹ đã mất, thay vì vội vàng tranh luận ai được bao nhiêu, các thành viên nên kiểm tra giấy tờ, xác định tài sản nào là di sản và ai có quyền thừa kế. Nếu có bất đồng, có thể nhờ người có chuyên môn giải thích để mọi người cùng hiểu.

"Ra tòa là quyền của mỗi người và có những vụ việc bắt buộc phải nhờ tòa án giải quyết. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi, đối với tranh chấp giữa anh chị em trong gia đình, tố tụng nên là lựa chọn sau khi những cách giải quyết ôn hòa thực sự không còn hiệu quả", luật sư Hiệu nói.

Luật sư Thu Thảo cũng cho rằng khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, mỗi người có quyền yêu cầu pháp luật bảo vệ. Không ai phải từ bỏ quyền lợi chính đáng chỉ để giữ "hòa khí" khi sự bất công vẫn tồn tại. Nhưng bảo vệ quyền lợi và biến người thân thành kẻ thù là hai câu chuyện hoàn toàn khác nhau.

Một bản án có thể xác định ai được hưởng bao nhiêu phần di sản, ai được nhận tiền, ai phải giao nhà. Nhưng sau bản án, liệu những người anh chị em ấy còn nhìn mặt nhau, còn về giỗ cha mẹ, còn ngồi chung một mâm cơm?

"Luật sư có thể giúp khách hàng thắng một vụ kiện, nhưng không thể trả lại một gia đình như trước", luật sư Hạ Thị Thu Thảo trăn trở.

Trong khi đó, luật sư Hiệu chia sẻ, ông cũng thường đặt cho khách hàng một câu hỏi: "Nếu có một phương án mà quyền lợi của anh/chị có thể bớt đi một chút nhưng gia đình giải quyết được với nhau, anh/chị có cân nhắc không?".

Không phải vụ tranh chấp nào cũng có thể hòa giải. Không phải lúc nào nhường nhịn cũng là đúng. Nhưng trước khi đi đến cùng một vụ kiện với chính anh, chị hoặc em của mình, mỗi người nên tự hỏi mình được gì và mất gì.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/pioyKUp38UUGlt73y

Các bước chuyển đất nông nghiệp lên đất thổ cư năm 2026

Anh Nguyễn Đức Công (Ninh Bình) có mảnh đất nông nghiệp 60m2, anh Công muốn hỏi về các bước chuyển đất nông nghiệp lên đất thổ cư năm 2026?

Giải đáp câu hỏi này, Luật sư Trần Tuấn Anh - Giám đốc Công ty Luật Bright Legal - cho biết, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 121 Luật Đất đai 2024, việc chuyển đất nông nghiệp sang đất thổ cư thuộc trường hợp phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Việc chấp thuận được xem xét trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch đô thị, nông thôn đã được phê duyệt theo Điều 116 Luật Đất đai 2024.

Trình tự thực hiện theo Điều 227 Luật Đất đai 2024 gồm:

Kiểm tra điều kiện của thửa đất: Có giấy chứng nhận, còn thời hạn sử dụng, không tranh chấp, không bị kê biên và phù hợp với quy hoạch được phê duyệt.

Chuẩn bị hồ sơ, thông thường gồm đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy tờ chứng minh thuộc diện được miễn, giảm nghĩa vụ tài chính nếu có.

Nộp hồ sơ tại Bộ phận một cửa hoặc cơ quan tiếp nhận hồ sơ đất đai theo quy định của UBND tỉnh nơi có đất. Người sử dụng đất có thể liên hệ UBND cấp xã nơi có đất để được hướng dẫn cụ thể.

Cơ quan chuyên môn kiểm tra hồ sơ, hiện trạng, quy hoạch và điều kiện chuyển mục đích; sau đó trình người có thẩm quyền ban hành quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

Người sử dụng đất nộp tiền sử dụng đất và các khoản phí, lệ phí theo thông báo của cơ quan thuế.

Cơ quan đăng ký đất đai cập nhật mục đích sử dụng đất, chỉnh lý hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận và trả kết quả.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/Z7VnR2wKGsbtjgkem

Giải đáp việc cấp sổ đỏ cho đất khai phá, sử dụng ổn định từ năm 1995

Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn công dân trình tự, thủ tục về việc xem xét cấp sổ đỏ.

Trên Cổng thông tin Bộ Nông nghiệp và Môi trường, công dân hỏi:

Tôi có một thửa đất tại xã Xuân Trường, thành phố Đà Lạt (cũ), có nguồn gốc do tôi khai phá từ năm 1995 và sử dụng ổn định từ đó đến nay.

Qua nghiên cứu, tôi được biết trước đây khu vực này thuộc Lâm trường Đà Lạt cũ. Tháng 1.1993, Ban Quản lý rừng Lâm Viên được thành lập trên cơ sở chuyển giao toàn bộ đất rừng, rừng, tài sản và cán bộ, công chức, viên chức thuộc Lâm trường Đà Lạt.

Năm 2000, UBND tỉnh điều chỉnh diện tích đất giao cho Ban Quản lý rừng Lâm Viên theo Quyết định số 957, trong đó vẫn có phần diện tích đất tôi đang sử dụng. Đến năm 2019, UBND tỉnh tiếp tục điều chỉnh ranh giới theo Quyết định số 1424 và đưa phần đất của tôi ra ngoài ranh giới do Ban Quản lý rừng Lâm Viên quản lý. Trong quá trình điều chỉnh từ Quyết định số 957 sang Quyết định số 1424, không có phương án sử dụng đất được phê duyệt.

Hiện nay, tôi có nhu cầu đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi liên hệ để được hướng dẫn, tôi được biết trường hợp của mình thuộc điểm c khoản 2 Điều 139 Luật Đất đai, quy định về trường hợp sử dụng đất do lấn, chiếm đất có nguồn gốc nông, lâm trường được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các đối tượng qua các thời kỳ.

Tại Điều 26 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP hướng dẫn điểm c khoản 2 Điều 139 Luật Đất đai quy định việc cấp Giấy chứng nhận đối với hộ gia đình, cá nhân được thực hiện căn cứ vào phương án sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Vậy, trường hợp của tôi, khi điều chỉnh diện tích đất giao cho Ban Quản lý rừng Lâm Viên từ Quyết định số 957 năm 2000 sang Quyết định số 1424 năm 2019, nếu Ban Quản lý rừng Lâm Viên chưa lập phương án sử dụng đất, chưa có quyết định bàn giao đất cho địa phương quản lý mà chỉ có biên bản bàn giao đất cho địa phương được ký giữa các đơn vị thì có cần lập phương án sử dụng đất trước khi cấp Giấy chứng nhận hay không? Nếu có thì cơ quan, đơn vị nào có trách nhiệm lập phương án này theo quy định tại Điều 26 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP?

Bộ Nông nghiệp và Môi trường có ý kiến như sau:

Nội dung phản ánh là vụ việc cụ thể và cần căn cứ vào hồ sơ lưu trữ, các quy định cụ thể của địa phương đã ban hành theo thẩm để xem xét, giải quyết thông tin, Bộ không có đủ cơ sở để trả lời cụ thể. Bộ trao đổi một số nguyên tắc pháp luật để công dân nghiên cứu và đối chiếu với hồ sơ thực tế của mình như sau:

1. Về việc lập phương án sử dụng đất:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 180 Luật Đất đai năm 2024, đối với phần diện tích đất đã được thu hồi hoặc bàn giao về địa phương để quản lý thì không phải lập phương án sử dụng đất, trừ các trường hợp thuộc Điều 181 Luật Đất đai (đất do các công ty nông, lâm nghiệp quản lý, sử dụng) mới phải lập phương án sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Do đó, liên quan đến việc có phải lập phương án sử dụng đất hay không sẽ phụ thuộc vào nguồn gốc thửa đất của ông/bà đang sử dụng để xác định thửa đất đó thuộc đối tượng được áp dụng thực hiện theo Điều 180 hay Điều 181 của Luật Đất đai quy định nói trên.

2. Về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Việc xem xét cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân được thực hiện theo các Điều 137, 138, 139 và 140 của Luật Đất đai năm 2024, căn cứ vào: nguồn gốc đất, thời điểm bắt đầu sử dụng đất, quá trình quản lý của Nhà nước qua các thời kỳ, và hồ sơ, tài liệu do địa phương lưu trữ. Trường hợp có căn cứ xác định việc sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 1.7.2014, việc cấp Giấy chứng nhận được thực hiện theo Điều 139 của Luật Đất đai năm 2024.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/bJuBxxBWPsGh7ro3d

Nguồn: Lao Động; Dân Trí; Thanh Niên

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Bất động sản thay đổi lớn; Chia đất đai thừa kế; Hỗ trợ thu hồi đất nông nghiệp; Chính sách đặc thù; Quy định mới về thẻ căn cước

Cấp sổ đỏ từng phần đất nghĩa trang; Đính chính sổ đỏ & đăng ký biến động; Cấp đổi sổ đỏ và sang tên thừa kế; Xác định lại hạn sử dụng đất ao sổ đỏ cũ; Luật Báo chí

Cấp sổ đất có nguồn gốc lấn, chiếm; Giảm tiềm sử dụng đất tặng con; Giao dịch online bị ngân hàng từ chối; Điều kiện lối đi tách thửa; Mất tiền cọc vì một yêu cầu

Chính sách mới có hiệu lực; Cấp sổ đỏ đất giao khoán; Xây nhà trên đất nông nghiệp; Thông báo giao dịch nội dung sau; Phạt tiền các giao dịch nhận/chuyển tiền sau

Dự thảo Luật Đất đai mới; Lưu ý thuê người giúp việc; Gỡ điểm nghẽn sửa Luật Đất đai; Đất nông nghiệp bị thu hồi; Căn cứ công nhận đất khi cấp sổ đỏ

Xử lý nhà dân xây trên đất nông nghiệp thuộc thẩm quyền cấp xã; Quy định mới cấp thẻ Căn cước; Xây nhà cấp 4 không phép bị đình chỉ; Doanh nghiệp bị thu hồi đất vì không sử dụng

3 việc nên làm Rằm tháng 7; Chính sách thu hồi đất đô thị đặc biệt; Cấp sổ đỏ đất mua bằng giấy viết tay; Lưu ý người sở hữu bất động sản; Chuyển đất nông nghiệp lên thổ cư

Người có Căn cước công dân chú ý; Xử lý đất sử dụng làm nhà ở từ 1980; Người có bất động sản chú ý; Làm gì khi hàng xóm lấn chiếm đất; Miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Lên đầu trang