Người Việt ở Đức cần biết: Giáo sư tâm lý Tạ Thị Minh Tâm, Bệnh viện Charité Berlin cứu được bao người Việt trầm cảm

Phòng khám ngoại trú tại bệnh viện Charité  Berlin

 Căng thẳng tâm lý, trong y học gọi là trầm cảm không hiếm ở những người nhập cư vào Đức, nhất là phụ nữ. Tại bệnh viện Charité của Berlin, một phòng khám ngoại trú đặc biệt đang chuyên chữa trị cho những người có triệu chứng này.

Phòng khám ngoại trú nằm trong những tòa nhà gạch cũ của Charité, bệnh viện lớn nhất ở Berlin. Quang cảnh trong tòa nhà bệnh viện rất phù hợp với đặc trưng của bệnh nhân trầm cảm, người bệnh không có cảm giác như đang ở trong bệnh viện khi đi qua hành lang quanh co đến các phòng chữa trị của phòng khám ngoại trú. Khu vực chờ có màu vàng và xanh lá cây, sàn nhà được trang trí bằng gạch hoa văn. Phòng khám ngoại trú được thành lập từ năm 2010 với đồng sáng lập bởi Giáo sư, Tiến sĩ Tạ Thị Minh Tâm, bác sĩ cao cấp và chuyên gia tâm thần và tâm lý trị liệu.

Trải nghiệm di cư là một yếu tố rủi ro

Sau khi học Đại học Y khoa, Giáo sư Tạ từ Việt Nam đến Đức vào năm 2006. Lúc đó, bà thực sự muốn trở thành một bác sĩ nội khoa, nhưng sau đó nhận thấy một lỗ hổng trong việc chăm sóc những người nhập cư Việt Nam hầu như không thể tiếp cận với tâm thần học và tâm lý trị liệu, do bất đồng ngôn ngữ, tập quán và lối sống. Giáo sư nói: Nhiều người không biết phải đi đâu chữa, khi họ không được khỏe về tinh thần, bởi vì hệ thống y tế ở Đức rất khác so với ở Việt Nam. Ngoài ra, còn  rào cản ngôn ngữ. Theo báo cáo, Giáo sư và nhóm của bà hiện đang chăm sóc khoảng 140 bệnh nhân mỗi quý bằng tiếng Việt và Đức cho những nhóm người nhập cư từ các quốc gia khác nhau.

Theo Giáo sư: Bản chất di cư không làm cho con người bị bệnh.Việc bị bệnh bệnh tâm lý hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm ảnh hưởng bởi di truyền và tâm lý xã hội. Tuy nhiên, di cư có thể là một yếu tố rủi ro vì những người trải qua nó phải đối mặt với nhiều căng thẳng. Ví dụ, mất mạng xã hội do chuyển đến một quốc gia khác, thất nghiệp hoặc tình trạng cư trú không chắc chắn. Một số buộc phải chạy trốn khỏi đất nước của họ và trải qua những sự kiện đau thương như chiến tranh hoặc áp bức.

Một bệnh nhân Việt với hoàn cảnh đặc biệt

Trong căn phòng nhỏ tiếp nhận bệnh nhân ngoại trú có treo một bức ảnh của hai người phụ nữ đi bộ dọc theo bãi biển. Đó là bệnh nhân Nguyễn Oanh và nhà điều trị tâm lý Đỗ Linda. 

Một trong những lý do khiến Nguyễn Oanh cảm thấy tốt hơn ngay sau lịch chữa trị đầu tiên, là lần đầu tiên cô có thể nói chuyện với Đỗ  về mọi thứ đã xảy ra trong quá khứ của mình.

Nguyễn Oanh đến Đông Berlin từ Việt Nam vào năm 1987, với tư cách là lao động hợp đồng. Cuộc sống ở Đức ban đầu là một cú sốc đối với cô. Mọi thứ có vẻ lạ lùng, cô rất sợ, cô muốn trở về.  Nguyễn nói tiếng Việt, chỉ có lúc trả lời bằng tiếng Đức ngắt quãng. Rồi dần dần, cô tìm thấy những người đã giúp đỡ mình. Trong tiếng Việt, có một từ, cố gắng, có nghĩa là tiếp tục vượt lên. Đó là những gì Nguyễn đã làm. Nhờ vậy, cô ấy ở lại Đức.

Ba năm sau khi đến Đức, Nguyễn gặp chồng hiện nay. Cả hai đều không vui. Khi còn nhỏ, tôi giống như một con chim tự do. Tôi thích viết truyện. Khi tôi gặp chồng mình, không còn  điều đó nữa. Gia đình chồng khiến Nguyễn chịu áp lực, cô không muốn nói chính xác chuyện gì đã xảy ra. Nguyễn nói rằng cô không thể cười được nữa và ngày càng buồn hơn trong những năm qua. 

Đỗ Linda cho biết, phòng khám ngoại trú giúp nhiều bệnh nhân, vì họ mất cảm giác họ bị đánh giá hoặc thực tế cuộc sống của họ có vấn đề. Chẳng hạn sự gắn kết trong các gia đình Việt Nam rất gần gũi và hỗ trợ nhau là tự nhiên. Nhưng ở Đức, một số người có thể cho đó là sự phụ thuộc, mặc dù trong văn hóa Việt Nam lại bình thường. Một số bệnh nhân trước đây đã từng đến gặp các nhà trị liệu hoặc bác sĩ người Đức, nhưng cảm thấy mình bị hiểu lầm. Trong một thời gian dài, nhiều người thậm chí không dám tìm kiếm sự giúp đỡ từ các bác sỹ tâm lý Đức.

Văn hóa Việt và tâm lý kì thị bệnh nhân tâm thần

Theo Giáo sư Tạ, Trong cộng đồng người Việt, sự kỳ thị đối với bệnh tâm thần vẫn còn cao. Nhiều người ngay lập tức nghĩ đến việc được đưa vào phòng khám và che giấu các vấn đề tâm thần của họ. Trầm cảm thường không được coi là một căn bệnh, mà là một sự buồn bã do chính mình gây ra. Và điều này cũng được thể hiện rõ ràng trong các cuộc trò chuyện. Khi một bệnh nhân Đức có thể nói về tâm trạng chán nản, một bệnh nhân Việt Nam có nhiều khả năng nói: Tôi bị đau đầu. Khi suy nghĩ của bệnh nhân quay cuồng, bệnh nhân nói: Tôi không thể ngủ được. Nếu hỏi kỹ hơn, các triệu chứng giống nhau giữa người Đức và người Việt xuất hiện, chúng chỉ thể hiện khác nhau.

Nếu các nhà trị liệu thiếu kiến thức về sự khác biệt văn hóa như vậy, chẩn đoán đôi khi được thực hiện không chính xác, kiểm tra cứ lặp đi lặp lại, bệnh tật bị trì hoãn. Ví dụ, có một bệnh nhân đến phòng khám ngoại trú vì trầm cảm sau sinh đã mắc bệnh này kể từ khi sinh con gái cách đây 20 năm, cô ấy chưa bao giờ được điều trị.

Nhà điều trị cần năng lực liên văn hóa

Linda Do làm việc với tư cách một nhà trị liệu tâm lý trong phòng khám ngoại trú Charité

nói: Trên thực tế, tất cả các nhà trị liệu tâm lý đều cần năng lực liên văn hóa. Tổng cộng, có khoảng 500 phòng khám ngoại trú về tâm thần ở Đức, tức là nơi mọi bệnh nhân có thể nhận được sự giúp đỡ thường xuyên mà không cần ở lại qua đêm. Nhưng chỉ một số ít trong số các phòng khám cung cấp liệu pháp đa văn hóa. Mặc dù tới 30% người dân ở Đức có nền tảng di cư. Để thay đổi điều này, Giáo sư Tạ cũng làm việc với các nhân viên xã hội và chính quyền địa phương xây dựng một mạng lưới hỗ trợ những người có nền tảng di cư Việt Nam trong các cuộc khủng hoảng.

Nghiên cứu cho thấy những người bị xã hội tách biệt có nhiều khả năng bị trầm cảm hơn. Nhưng chúng tôi không thể nói liệu trầm cảm có dẫn đến khó khăn trong hội nhập hay ngược lại hay không..

Khi ngôn ngữ bị thiếu

Những người sinh ra ở Việt Nam thường  ít quan hệ với gia đình của họ trước kia ở Việt Nam sau nhiều năm dài ở Đức. Nhiều người chỉ biết quê hương của họ trước  khi rời khỏi nó. Nhưng Việt Nam đã thay đổi rất nhiều trong những thập kỷ gần đây. Theo Giáo sư Tạ, điều đó cũng khiến một số người có cảm giác bị mất gốc.

Ngoài ra, nhiều người thậm chí không thể gọi những trải nghiệm về phân biệt chủng tộc và bạo lực là phân biệt đối xử. Sau đó, họ đến phòng khám ngoại trú với cơn đau dạ dày do phân biệt đối xử gây ra, nhưng  không thể tìm thấy một từ nào để diễn tả trải nghiệm của họ. Theo Giáo sư Tạ, trước hết, người bị phân biệt phải thừa nhận những cảm xúc tự nhiên này, bất cứ ai trải qua chủ nghĩa bài ngoại đều được phép tức giận và buồn bã.

Theo Giáo sư Tạ, nhiều bệnh nhân báo cáo rằng tiếng Đức của họ xấu đi trong các giai đoạn trầm cảm. Liệu pháp điều trị cho phép họ tập trung tốt hơn, trở lại làm việc và cũng có thể xây dựng nhiều mối quan hệ xã hội hơn.

Hiệu quả

Bệnh nhân Nguyễn Oanh đã không còn sợ nói về cảm xúc của mình thông qua các buổi trị liệu. Tuần trước, cô ấy đã suýt rơi nước mắt cả giờ, và hôm nay cô ấy ngồi đây cười. Cô cũng đã bắt đầu chơi piano và tiếp tục viết truyện vốn là sở trường trước đây. Câu chuyện cô ấy hiện đang thực hiện đã viết được  khoảng 100 trang. Đó là câu chuyện của cuộc đời cô – cuộc đời của một người nhập cư bị trầm cảm !

Đức Việt Online

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Luật Pháp

Nhập cư

Người Việt ở Đức

Chính trị - Xã hội

Lên đầu trang