- Thời sự

Việc tạo điều kiện để chuyên gia trở về, cần có cơ chế linh hoạt để trí thức người Việt toàn cầu tham gia thường xuyên vào khoa học-công nghệ của đất nước, để cùng xây dựng năng lực trí tuệ quốc gia.
Trong bối cảnh khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành những động lực cốt lõi của phát triển, việc phát huy nguồn lực trí thức, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài, nhất là trong các lĩnh vực chiến lược như Trí tuệ Nhân tạo (AI), ngày càng có ý nghĩa quan trọng.
Trao đổi với phóng viên TTXVN, Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học Nguyễn Văn Tâm, Chủ nhiệm Khoa Khoa học máy tính, Dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo, Học viện Bách khoa Paris đề xuất, chuyển từ “kết nối con người” sang “đồng sáng tạo khoa học-công nghệ,” hướng tới xây dựng hệ sinh thái trí tuệ Việt Nam toàn cầu và biến nguồn lực này thành năng lực khoa học-công nghệ quốc gia.
- Từ góc độ một nhà khoa học Việt Nam đang làm việc trong hệ sinh thái AI hàng đầu châu Âu, ông đánh giá thế nào khi Nghị quyết 23-NQ/TW xác định người Việt Nam ở nước ngoài là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng của đất nước? Và cần làm gì để chuyển từ “kết nối chuyên gia” sang một mạng lưới khoa học-công nghệ thực chất, có khả năng giải quyết bài toán lớn quốc gia?
Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học Nguyễn Văn Tâm: Một điểm rất quan trọng của Nghị quyết 23-NQ/TW là nhìn nhận cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, mà còn là nguồn lực quan trọng cho phát triển đất nước.
Trong khoa học và công nghệ, điều này càng có ý nghĩa. Louis Pasteur từng nói: “Khoa học không có biên giới, bởi tri thức thuộc về nhân loại và là ngọn đuốc soi sáng thế giới.” Ngày nay, khoa học vận hành như một mạng lưới toàn cầu. Sức mạnh khoa học của một quốc gia không chỉ nằm ở vốn, dữ liệu hay năng lực tính toán mà ở con người có khả năng tạo ra tri thức, làm chủ công nghệ và kết nối quốc gia với những trung tâm trí tuệ hàng đầu thế giới.
Việt Nam có nhiều giáo sư, nhà khoa học, kỹ sư và doanh nhân đang làm việc tại những trung tâm khoa học-công nghệ hàng đầu thế giới. Để chuyển nguồn lực trí tuệ này thành năng lực khoa học-công nghệ quốc gia, theo tôi, cần 3 bước: Kết nối con người, thúc đẩy hợp tác, chuyển hợp tác thành năng lực.
Những mạng lưới chuyên gia theo lĩnh vực, trong đó có Mạng lưới chuyên gia Trí tuệ Nhân tạo Việt Nam toàn cầu (VGAIN), có thể giúp chuyển kết nối thành năng lực. Đó là hình thành các nhóm nghiên cứu xuyên biên giới, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, phát triển dữ liệu, mô hình, chuyển giao công nghệ và giải quyết những bài toán của Việt Nam.
Khi đó, chúng ta chuyển từ mạng lưới con người sang mạng lưới năng lực. Thay vì hỏi, Việt Nam có những chuyên gia nào ở nước ngoài, nên bắt đầu từ câu hỏi, trong 5-10 năm tới, chúng ta cần xây dựng những năng lực khoa học-công nghệ nào. Điều đó cũng mở rộng cách nhìn về thu hút nhân tài.
Bên cạnh việc tạo điều kiện để chuyên gia trở về, cần có cơ chế linh hoạt để trí thức người Việt toàn cầu tham gia thường xuyên vào khoa học-công nghệ của đất nước. Đó chính là tuần hoàn trí tuệ: Kết nối trí tuệ Việt Nam toàn cầu để cùng xây dựng năng lực trí tuệ quốc gia.
- Thủ tướng Chính phủ đặt yêu cầu đẩy mạnh ngoại giao khoa học-công nghệ, kết nối với mạng lưới chuyên gia, trí thức kiều bào. Trong lĩnh vực AI, theo ông, cần cơ chế nào để chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài có thể tham gia trực tiếp vào các chương trình khoa học-công nghệ trong nước?
Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học Nguyễn Văn Tâm: Theo tôi, đây là lúc cần chuyển từ kết nối con người sang đồng sáng tạo khoa học và công nghệ, tạo điều kiện để các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài trực tiếp tham gia nghiên cứu, phát triển công nghệ và đào tạo con người.
Có 3 vấn đề quan trọng. Thứ nhất là đồng lãnh đạo khoa học. Một giáo sư ở nước ngoài có thể đồng chủ nhiệm chương trình nghiên cứu, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh và cùng chịu trách nhiệm về một hướng công nghệ, qua đó hình thành những nhóm nghiên cứu Việt Nam xuyên biên giới.
Thứ hai là xây dựng hạ tầng nghiên cứu dùng chung về dữ liệu, tài nguyên tính toán, bộ chuẩn đánh giá và môi trường thử nghiệm. Với dữ liệu nhạy cảm hoặc chiến lược, cần có môi trường nghiên cứu tin cậy, cho phép chuyên gia hợp tác từ xa trong khi dữ liệu vẫn được kiểm soát và bảo vệ tại Việt Nam.
Thứ ba, tập trung nguồn lực vào một số bài toán Trí tuệ Nhân tạo lớn của đất nước, tập hợp đội ngũ phù hợp trong và ngoài nước để cùng giải quyết và đưa kết quả vào thực tiễn.
Một nguyên tắc đặc biệt quan trọng là mỗi chương trình khoa học lớn cũng phải là một chương trình phát triển con người. Sau 3 hay 5 năm, thành quả không chỉ là bài báo hay công nghệ mà còn là nghiên cứu sinh, kỹ sư, dữ liệu, nền tảng và những nhóm nghiên cứu đủ mạnh để tiếp tục phát triển. Nếu làm được như vậy, ngoại giao khoa học-công nghệ không chỉ giúp Việt Nam tiếp cận tri thức thế giới mà còn chuyển hóa tri thức và mạng lưới toàn cầu thành năng lực khoa học nội sinh.
- Ông có thể chia sẻ kinh nghiệm, đề xuất những cơ chế để một giáo sư, nhà khoa học người Việt Nam đang ở nước ngoài, có thể tham gia sâu vào các chương trình khoa học-công nghệ trong nước?
Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học Nguyễn Văn Tâm: Theo tôi, có 4 nhóm cơ chế cần đặc biệt quan tâm. Thứ nhất là tài trợ nghiên cứu và quyền tự chủ khoa học. AI thay đổi rất nhanh, nên các chương trình chiến lược cần đủ dài để tạo ra năng lực và đủ linh hoạt để điều chỉnh hướng nghiên cứu và công nghệ. Nhà nước quản lý mục tiêu, ngân sách và trách nhiệm giải trình, đồng thời trao quyền chủ động cho người chịu trách nhiệm chuyên môn.
Thứ hai là vị trí khoa học linh hoạt và cơ chế đãi ngộ phù hợp. Các hình thức đồng bổ nhiệm, giáo sư kiêm nhiệm hay nhà khoa học thỉnh giảng dài hạn có thể giúp chuyên gia ở nước ngoài tham gia với vai trò lãnh đạo khoa học, cùng cơ chế đãi ngộ linh hoạt và cạnh tranh.
Thứ ba là cơ chế rõ ràng về sở hữu trí tuệ và dữ liệu. Cần có thỏa thuận ngay từ đầu về sở hữu trí tuệ, quyền công bố, bằng sáng chế, chuyển giao và thương mại hóa. Với dữ liệu, cần thiết kế quyền truy cập theo mức độ rủi ro để vừa thúc đẩy nghiên cứu, vừa bảo đảm quyền riêng tư, an ninh và lợi ích quốc gia.
Thứ tư là thay đổi cách đánh giá hiệu quả. Không chỉ nhìn vào số chuyên gia hay hoạt động kết nối, mà cần đánh giá các nhóm nghiên cứu xuyên biên giới, nghiên cứu sinh được đồng hướng dẫn, công nghệ, dữ liệu, bằng sáng chế và năng lực nghiên cứu mới hình thành tại Việt Nam.
- Theo ông, trong thời gian tới cần xây dựng một “hệ sinh thái AI toàn cầu của người Việt” như thế nào để kết nối nguồn lực trí tuệ trong và ngoài nước? Và từ tinh thần Nghị quyết 23-NQ/TW, đâu là những việc có thể ưu tiên triển khai ngay?
Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học Nguyễn Văn Tâm: Theo tôi, mục tiêu không chỉ là xây dựng một mạng lưới chuyên gia mà là hình thành một hệ sinh thái trí tuệ Việt Nam toàn cầu. Giá trị của hệ sinh thái này phải được đo bằng những năng lực mới mà Việt Nam xây dựng được từ các kết nối.
Với nguồn lực hiện có, Việt Nam cần tập trung vào những lĩnh vực có tiềm năng tạo đột phá và lợi thế dài hạn.
Theo tôi, có năm hướng phát triển Trí tuệ Nhân tạo mang tính chiến lược và bổ trợ lẫn nhau.
Trí tuệ Nhân tạo có mối quan hệ hai chiều. Giáo dục giúp con người làm chủ Trí tuệ Nhân tạo. Nếu sử dụng đúng, Trí tuệ Nhân tạo có thể giúp phát triển con người tốt hơn. Trí tuệ Nhân tạo cho giáo dục STEM cần được ưu tiên, bởi STEM là nền tảng quan trọng của năng lực khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia. Trí tuệ Nhân tạo mở ra khả năng cá nhân hóa việc học ở quy mô chưa từng có.
Tuy nhiên, nguyên tắc quan trọng là phát triển trí tuệ con người trước, sau đó sử dụng Trí tuệ Nhân tạo để khuếch đại năng lực trí tuệ, không thay thế quá trình hình thành trí tuệ. Vì vậy, nền tảng vẫn phải là học cách học, học đi đôi với hành, hình thành thói quen tốt, hệ giá trị và tư duy phản biện.
Đích đến không phải để Trí tuệ Nhân tạo suy nghĩ thay con người, mà là tạo ra một thế hệ có trí tuệ tự nhiên mạnh, hiểu, làm chủ và biết sử dụng Trí tuệ Nhân tạo để phát triển năng lực của chính mình, nhất là đối với học sinh ở bậc phổ thông.
Thứ hai, Trí tuệ Nhân tạo cho văn hóa. Trong tương lai, Trí tuệ Nhân tạo sẽ trở thành một trong những cánh cửa chính để con người tiếp cận tri thức. Vì vậy, tiếng Việt, lịch sử, văn hóa, tư tưởng và hệ giá trị Việt Nam... cần có vị trí trong không gian trí tuệ toàn cầu.
Trí tuệ Nhân tạo cho văn hóa không chỉ là số hóa di sản. Việt Nam có một kho tàng trí tuệ được tích lũy qua hàng nghìn năm. Điều cần gìn giữ không chỉ là những giá trị cha ông để lại, mà còn là những tư tưởng, tri thức được hun đúc qua các thế hệ.
Tri thức, tư tưởng và hệ giá trị đó cần được nghiên cứu, số hóa, kết nối và truyền lại một cách khoa học. Trí tuệ Nhân tạo có thể giúp tiếp nối dòng chảy trí tuệ và bản sắc Việt Nam giữa các thế hệ, đồng thời tạo hạ tầng dữ liệu để các hệ thống Trí tuệ Nhân tạo tương lai hiểu Việt Nam sâu hơn.
Thứ ba, Trí tuệ Nhân tạo chủ quyền. Trí tuệ Nhân tạo chủ quyền không có nghĩa Việt Nam phải tự phát triển tất cả công nghệ trong chuỗi giá trị Trí tuệ Nhân tạo. Điều quan trọng là xác định những năng lực chiến lược cần làm chủ và mức độ tự chủ cần thiết đối với từng năng lực.
Với dữ liệu chiến lược, các hệ thống thiết yếu và những lĩnh vực liên quan đến lợi ích quốc gia, Việt Nam cần duy trì khả năng kiểm soát dữ liệu, hệ thống và đặc biệt là quyền ra quyết định. Tự chủ có chọn lọc không chỉ góp phần bảo đảm an ninh, mà còn phát triển công nghệ, doanh nghiệp và sở hữu trí tuệ trong nước, từng bước đưa Việt Nam lên những khâu có giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị Trí tuệ Nhân tạo.
Thứ tư là "mindful Trí tuệ Nhân tạo". Một quốc gia muốn có vị trí trong khoa học không thể chỉ sử dụng công nghệ do thế giới tạo ra mà cần có những câu hỏi khoa học của riêng mình. Một câu hỏi tôi đặc biệt quan tâm là, ngoài con đường xây dựng các mô hình ngày càng lớn hơn, liệu chúng ta có thể tạo ra những thế hệ Trí tuệ Nhân tạo mới bằng cách hiểu sâu hơn trí tuệ tự nhiên hay không.
Đây là nơi Trí tuệ Nhân tạo gặp khoa học thần kinh, khoa học nhận thức, tâm lý học và triết học tâm trí: Dùng Trí tuệ Nhân tạo để hiểu não bộ và trí tuệ con người; đồng thời dùng hiểu biết về não bộ và nhận thức để tìm kiếm những nguyên lý mới cho Trí tuệ Nhân tạo. Những quan sát từ trí tuệ phương Đông về chú tâm, tự quan sát hay cân bằng nội tại cũng có thể trở thành giả thuyết nghiên cứu, nhưng phải được kiểm chứng bằng thực nghiệm, dữ liệu và phương pháp khoa học hiện đại.
Thứ năm, con người là trung tâm, với nền tảng khoa học nhận thức. Khoa học nhận thức có thể trở thành một trong những nền tảng giáo dục của kỷ nguyên trí tuệ, giúp con người hiểu, làm chủ và phát triển chính mình trong kỷ nguyên Trí tuệ Nhân tạo. Đây không nhất thiết phải là một môn học riêng mà có thể là nền tảng xuyên suốt giáo dục, giúp người học biết cách chú ý, ghi nhớ, tư duy và đưa ra quyết định. Mục tiêu là giúp con người làm chủ Trí tuệ Nhân tạo, sử dụng Trí tuệ Nhân tạo để khuếch đại trí tuệ, thay vì lệ thuộc hoặc bị Trí tuệ Nhân tạo chi phối.
Năm trụ cột này tạo thành một chỉnh thể, cùng hướng tới nền kinh tế dựa ngày càng nhiều hơn vào con người, năng suất, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và tri thức, qua đó giúp Việt Nam từng bước chuyển từ sử dụng công nghệ sang làm chủ và tạo ra công nghệ.
Từ tinh thần Nghị quyết 23-NQ/TW, theo tôi có thể ưu tiên 3 việc. Thứ nhất, lựa chọn một số bài toán Trí tuệ Nhân tạo lớn của Việt Nam và xây dựng các nhóm nghiên cứu xuyên biên giới để giải quyết.
Thứ hai, kết nối các nhà khoa học người Việt trên thế giới với sinh viên và nghiên cứu viên trẻ trong nước thông qua cố vấn, thực tập, đồng hướng dẫn và hợp tác nghiên cứu.
Xem tiếp tại đường Link =>
Kết nối trí tuệ người Việt Nam toàn cầu tạo năng lực Trí tuệ Nhân tạo quốc gia
Chiều 31/8, nhân dịp tham dự Hội nghị thượng đỉnh Tổ chức hợp tác Thượng Hải mở rộng (SCO plus) tại Thủ đô Bishkek, Cộng hòa Kyrgyzstan, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân đã tiếp Chủ tịch Ủy ban Kinh tế Á-Âu (EAEU) Bakytzhan Sagintayev.
Tại cuộc gặp, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân đánh giá cao vai trò của Ủy ban Kinh tế Á-Âu và cá nhân ngài Chủ tịch trong việc thúc đẩy triển khai các cam kết trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam-EAEU thời gian qua; khẳng định cần khai thác tốt hơn FTA Việt Nam-EAEU và thúc đẩy thương mại-đầu tư, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và doanh nghiệp hai bên.
Trên cơ sở đó, Phó Chủ tịch nước đề nghị hai bên tiếp tục nghiên cứu nâng cấp, sửa đổi Hiệp định cho phù hợp với tình hình mới, đáp ứng nhu cầu hợp tác và tiềm năng kinh tế của Việt Nam và EAEU, bảo đảm mang lợi ích cân bằng cho các bên; mong muốn EAEU loại bỏ rào cản thương mại liên quan các biện pháp phòng vệ ngưỡng, nhất là đối với hàng dệt may, da giày; đề nghị EAEU tiếp tục lưu tâm đến các biện pháp phòng vệ thương mại liên quan mặt hàng gạo.
Về phần mình, Chủ tịch Ủy ban Kinh tế Á-Âu (EAEU) Bakytzhan Sagintayev vui mừng trước việc kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam và EAEU đã tăng trưởng gấp đôi, song nhấn mạnh dư địa và tiềm năng phát triển giữa hai bên vẫn còn rất lớn; mong muốn hai bên tăng cường trao đổi, đối chiếu số liệu thống kê thương mại để tháo gỡ các nút thắt; sớm tổ chức phiên họp của Ủy ban hỗn hợp, ký Nghị định thư về chứng nhận xuất xứ điện tử.
Đánh giá cao và ghi nhận các ý kiến cụ thể của ông Bakytzhan Sagintayev, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân chia sẻ lãnh đạo Việt Nam, đặc biệt là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm rất quan tâm đến việc triển khai các thỏa thuận, cam kết quốc tế; thông báo Việt Nam đang trong quá trình đổi mới mô hình phát triển, đề nghị hai bên mở rộng không gian hợp tác sang các lĩnh vực công nghệ cao như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi năng lượng…
EAEU là một trong những đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam. Sau 10 năm triển khai Hiệp định, kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam và Khối EAEU tăng gần 30%/năm giai đoạn 2017-2018 và tăng gần gấp đôi vào năm 2025 (so với năm 2016).
Tại cuộc gặp Phó Thủ tướng Phụ trách các vấn đề kinh tế Cộng hòa Arập Ai Cập Hussein Mohamed Ahmed Eissa, Phó Chủ tịch nước khẳng định Việt Nam đánh giá cao vai trò và ảnh hưởng quan trọng của Ai Cập ở khu vực, coi trọng quan hệ hữu nghị truyền thống với Ai Cập; bày tỏ vui mừng nhận thấy quan hệ hai nước đang phát triển tích cực, đặc biệt sau khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác toàn diện trong chuyến thăm Ai Cập của Chủ tịch nước Lương Cường tháng 8/2025.
Để đưa quan hệ hai nước phát triển thực chất hơn nữa, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân đề nghị hai bên sớm thúc đẩy trao đổi đoàn, nhất là đoàn cấp cao; đồng thời chuyển lời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mời Tổng thống Ai Cập Al-Sisi thăm Việt Nam.
Phó Chủ tịch nước nhấn mạnh Việt Nam và Ai Cập là các quốc gia có quy mô dân số và kinh tế tương đương nhau, do đó đề nghị hai bên khai thác các lợi thế, tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, thúc đẩy đàm phán FTA Việt Nam-Ai Cập; tiếp tục tích cực ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương quốc tế và khu vực. Phó Chủ tịch nước khẳng định Việt Nam sẵn sàng thúc đẩy quan hệ giữa ASEAN với Liên đoàn Arập và Liên minh châu Phi.
Đánh giá cao vai trò và đóng góp của ông Eissa trên cương vị Chủ tịch Nhóm nghị sĩ hữu nghị Việt Nam-Ai Cập khi ông còn là Nghị sĩ Quốc hội Ai Cập, Phó Chủ tịch nước mong muốn ông Eissa tiếp tục là người bạn tốt, là cầu nối thúc đẩy hợp tác giữa hai nước, đặc biệt là giữa Quốc hội Việt Nam và Quốc hội Ai Cập.
Về phần mình, Phó Thủ tướng Ai Cập Eissa khẳng định nhân dân Ai Cập rất cảm phục trước chiến thắng của Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước trước đây cũng như ấn tượng trước những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam ngày nay; nhấn mạnh, trên nền tảng quan hệ truyền thống tốt đẹp giữa hai nước, Ai Cập mong muốn tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác với Việt Nam trong nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, du lịch, chuyển đổi số, giáo dục đào tạo và năng lượng tái tạo.
Nhất trí với các đề xuất của Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân, Phó Thủ tướng Eissa khẳng định sẽ trao đổi với các Bộ trưởng liên quan của phía Ai Cập khi về nước để sớm chuyển tiềm năng to lớn trong quan hệ giữa hai nước thành các dự án cụ thể, cùng có lợi.
Trước đó cùng ngày, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân đã đến gặp cộng đồng bà con người Việt tại Bishkek, tìm hiểu tình hình cuộc sống, kinh doanh, đồng thời cũng chia sẻ với bà con những chủ trương chính sách mới nhất của Đảng, Nhà nước ta liên quan người Việt Nam ở nước ngoài.
Tại cuộc gặp diễn ra ở trụ sở Tập đoàn ROX của Việt Nam, Đại sứ Việt Nam tại Kazakhstan kiêm nhiệm Kyrgystan Nguyễn Thành Lê báo cáo với Phó Chủ tịch nước những nét chính về người Việt Nam sống và kinh doanh tại hai nước. Cộng đồng tại Kyrgystan chỉ có khoảng 300 người, chủ yếu là cán bộ, nhân viên của Tập đoàn ROX, doanh nghiệp đang thực hiện những dự án đầu tư lớn tại Kyrgystan.
Ghi nhận những đóng góp của ROX, nhân dịp chuyến thăm của Phó Chủ tịch nước Việt Nam, Tổng thống Cộng hòa Kyrgyzstan Sadyr Japarov đã trao tặng Huân chương Dostuk cho Chủ tịch Sáng lập ROX Group, Chủ tịch Hội đồng quản trị MSB Trần Anh Tuấn, vì những đóng góp quan trọng trong thúc đẩy hợp tác đầu tư giữa Việt Nam và Kyrgyzstan.
Cộng đồng có ý thức tuân thủ luật pháp sở tại, tích cực đóng góp cho sở tại, đồng thời hướng về quê hương đất nước, hưởng ứng lời kêu gọi của Đại sứ quán chia sẻ với đồng bào trong nước những lần xảy ra thiên tai tàn phá nặng nề. Đại sứ cho biết, quan hệ giữa Việt Nam và Kyrgystan có truyền thống lâu đời, có sự tin cậy, được sự ủng hộ của nhân dân hai nước, song luôn cần sự đóng góp của mỗi kiều bào, mỗi công dân để vun đắp cho tình hữu nghị đó.
Sau khi một số kiều bào chia sẻ về tâm tư nguyện vọng, doanh nghiệp đề xuất các kiến nghị để xây dựng cộng đồng ngày càng vững mạnh, phát triển, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân đã chào mừng toàn thể bà con tại Bishkek nhân dịp Quốc khánh 2/9 của Việt Nam và Quốc khánh của Kyrgystan 31/8. Phó Chủ tịch nước chuyển lời của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến tất cả bà con cộng đồng, Đại sứ quán, các doanh nghiệp, những lời chúc tốt đẹp nhất.
Phó Chủ tịch nước chỉ ra rằng, cho dù không đông, song cộng đồng đoàn kết, gắn bó với nhau, cùng nhau nỗ lực làm ăn, sinh sống, vun đắp tình cảm tốt đẹp của sở tại với cộng đồng. Phó Chủ tịch cũng cảm động trước tình cảm của bà con đã đến rất đông dù giao thông trong thành phố đang có khó khăn nhân sự kiện quốc tế lớn.
Phó Chủ tịch nước cũng biểu dương những thành công bước đầu của các doanh nghiệp, nhất là ROX, trong đầu tư và kinh doanh, đồng thời có ý thức quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài với công trình đầu tiên là Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa khánh thành trước đó cùng ngày. Phó Chủ tịch nước nhấn mạnh, tất cả những thành công đó đều đóng góp cho mối quan hệ song phương. Phó Chủ tịch nước cũng chia sẻ đến bà con về những điểm mới của Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị, đã thực sự là kim chỉ nam mạnh mẽ hơn để bà con kiều bào phát triển và đóng góp cho quê hương ở tầm cao mới.
Xem tiếp tại đường Link =>
Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân tiếp xúc song phương, gặp gỡ cộng đồng người Việt ở Bishkek
Nửa thế kỷ trước, Vinamilk bắt đầu hành trình trong một bối cảnh đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh, nền kinh tế còn nhiều khó khăn, ngành công nghiệp thực phẩm gần như phải gây dựng lại từ đầu, trong khi tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em ở mức cao.
Hành trình ấy có thể được nhìn từ những con số: doanh thu hợp nhất tăng hơn 15 lần trong giai đoạn 2004 - 2025, lên 63.724 tỉ đồng; lợi nhuận sau thuế tăng hơn 18 lần, đạt 9.414 tỉ đồng. Vốn điều lệ đến cuối năm 2025 đạt gần 20.900 tỉ đồng, tăng khoảng 14 lần so với thời điểm cổ phần hóa năm 2003.
Nhưng phía sau những con số đó là một câu chuyện dài hơn: câu chuyện về một doanh nghiệp đi cùng sự thay đổi của đời sống người Việt, từ những năm tháng đất nước thiếu thốn dinh dưỡng đến thời kỳ người tiêu dùng đòi hỏi sản phẩm chất lượng cao, chuyên biệt, tiện lợi và ngày càng quan tâm đến sức khỏe, môi trường.
Từ những nhà máy sau chiến tranh
Bà Mai Kiều Liên - nguyên UV Trung ương Đảng, Anh hùng lao động, Tổng giám đốc Vinamilk chia sẻ mỗi giai đoạn phát triển của Vinamilk là một “khúc quanh” mà lịch sử doanh nghiệp hòa vào lịch sử dân tộc. Trên dòng chảy đó, mỗi chặng đường của doanh nghiệp đều có những cơ hội và thử thách riêng. Cái khó của mỗi thời mỗi khác, bởi con đường Vinamilk đi vốn không có nhiều tiền lệ.
"Trong năm thập kỷ song hành cùng những bước chuyển mình của đất nước, mỗi giai đoạn là một khúc quanh nơi lịch sử Vinamilk hòa vào lịch sử dân tộc đến mức khó có thể tách rời", bà Liên nói.
Vinamilk ra đời năm 1976, trong giai đoạn Việt Nam bắt đầu bước vào công cuộc tái thiết sau chiến tranh.
Những ngày đầu, doanh nghiệp tiếp nhận hai nhà máy sản xuất sữa đặc đã ngừng hoạt động và một nhà máy sữa bột đang xây dựng dang dở. Nhưng với những người lãnh đạo thời ấy, thách thức không chỉ nằm ở máy móc. Nguyên liệu sản xuất thiếu, công nghệ hạn chế, thị trường còn nhỏ và điều kiện kinh tế của phần lớn người dân còn khó khăn.Trong bối cảnh ấy, việc khôi phục các nhà máy và đưa sản phẩm sữa đến người tiêu dùng đã là một nhiệm vụ không đơn giản.
Chính những năm tháng đầu tiên đó đặt nền móng cho một mục tiêu lớn hơn: người Việt có thể tự sản xuất những sản phẩm dinh dưỡng phục vụ chính người Việt.
Năm 1989, Vinamilk sản xuất thành công lô sữa bột trẻ em “Made in Vietnam” đầu tiên, ngành sữa Việt Nam bắt đầu từng bước làm chủ năng lực sản xuất, dần giảm phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung từ bên ngoài. Đó cũng là một trong những sợi chỉ xuyên suốt hành trình 50 năm của Vinamilk, luôn tự chủ sản xuất đến tự chủ nguồn nguyên liệu.
Đầu thập niên 1990, khi hoạt động sản xuất dần ổn định, Vinamilk bắt đầu theo đuổi một bài toán khó hơn: xây dựng vùng nguyên liệu sữa tươi trong nước trong thời điểm ngành chăn nuôi bò sữa Việt Nam còn rất nhỏ bé.
Việt Nam không phải quốc gia có lợi thế tự nhiên về chăn nuôi bò sữa, trong khi nhu cầu tiêu dùng sữa ngày càng tăng.
Nhưng lãnh đạo những ngày đầu đã táo bạo khởi xướng cuộc “Cách mạng trắng”, từng bước phát triển vùng nguyên liệu và xây dựng hệ thống trang trại. Đây là quyết định đặt nền móng cho mục tiêu tự chủ nguồn nguyên liệu sữa tươi trong nước. Mục tiêu khi đó không chỉ là có thêm sữa tươi cho sản xuất mà còn giảm sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.
Sau hơn ba thập kỷ, quy mô của hệ thống sản xuất ngày ấy đã thay đổi đáng kể. Vinamilk hiện sở hữu hệ thống 15 trang trại trong và ngoài nước, trong đó 13 trang trại đạt Global G.A.P. và ISO 9001:2015, 2 trang trại đạt chuẩn Organic; quản lý đàn bò sữa quy mô khoảng 130.000 con và có năng lực cung ứng khoảng 1,1 triệu lít sữa tươi mỗi ngày.
Xây dựng được lợi thế về nguyên liệu là cho thấy năng lực sản xuất của doanh nghiệp trong nước. Điều đáng chú ý là bài toán tự chủ nguyên liệu vẫn còn nguyên giá trị sau 50 năm.
Trong một thị trường toàn cầu thường xuyên biến động bởi giá hàng hóa, logistics, địa chính trị và biến đổi khí hậu, khả năng chủ động một phần nguồn nguyên liệu trở thành một yếu tố quan trọng đối với sức chống chịu của doanh nghiệp, giúp người tiêu dùng mua sản phẩm giá ổn định.
Đến khẳng định thương hiệu sữa Việt Nam trên 65 thị trường thế giới
Khi sản xuất dần ổn định, Vinamilk - dưới sự dẫn dắt của Tổng giám đốc Mai Kiều Liên - đã lần đầu tiên xuất khẩu sản phẩm sữa bột trẻ em ra nước ngoài vào năm 1997. Từ những đơn hàng đầu tiên xuất khẩu qua Iraq cách đây gần 30 năm, đến nay sản phẩm Vinamilk đã vươn ra 65 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng kim ngạch xuất khẩu lũy kế đến nay gần 3,9 tỷ USD.
Nhưng sự thay đổi mà hãng sữa Việt đạt được không chỉ nằm ở số lượng thị trường. Sản phẩm sữa Việt Nam bước vào một thị trường nước ngoài có nghĩa phải tuân thủ loạt yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm, khẩu vị, bao bì, logistics, thương hiệu và năng lực cạnh tranh… Vì thế, hành trình xuất khẩu cũng là quá trình hãng sữa Việt liên tục nâng chuẩn sản phẩm, đạt chuẩn quốc tế.
Trong những năm qua, các sản phẩm của doanh nghiệp đã đạt được nhiều tiêu chuẩn và giải thưởng quốc tế như Monde Selection, Clean Label Project, Purity Award, First 1,000 Day Promise Certification, Superior Taste Award hay World Dairy Innovation Awards. Những chứng nhận và giải thưởng này đã minh chứng quá trình chuyển đổi từ tư duy “sản xuất được sản phẩm” sang “sản xuất sản phẩm có thể cạnh tranh ở những thị trường khó tính”.
Không ngủ quên trên chiến thắng, Vinamilk bước vào giai đoạn đổi mới toàn diện từ năm 2023, với sự thay đổi về nhận diện thương hiệu, chuyển đổi số và tái cấu trúc hệ thống kinh doanh. Hơn ai hết, Vinamilk hiểu doanh nghiệp đang có một trong những tài sản lớn nhất không nằm trên bảng cân đối kế toán: Đó là ký ức thương hiệu.
Bà Liên khẳng định: "Trong hành trình 50 năm, đối với Vinamilk, không có sự ghi nhận nào lớn hơn niềm tin được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, khi hàng trăm triệu trẻ em Việt Nam và trên thế giới sử dụng sản phẩm Vinamilk từ khi còn trong bụng mẹ, lớn lên, trở thành những bậc cha mẹ và các thế hệ tiếp nối tiếp tục lựa chọn Vinamilk cho con mình".
Có những thế hệ người Việt từng uống sữa Vinamilk khi còn nhỏ, sau đó trở thành cha mẹ và tiếp tục mua sữa cho con. Một thương hiệu như vậy có một lợi thế mà không phải doanh nghiệp nào cũng có: sự hiện diện trong ký ức của nhiều thế hệ. Nhưng ký ức chỉ có thể trở thành lợi thế nếu thương hiệu tiếp tục tiến về phía trước.
Toàn bộ logo từng quen thuộc với nhiều thế hệ tiêu dùng đã được thay đồng loạt, những cửa hàng giới thiệu sản phẩm khoác lên mình một bộ áo mới: trẻ trung, hiện đại nhưng vẫn giữ được tinh thần “phụng sự” mà hãng sữa cam kết hàng chục năm qua. Đến cuối năm 2025, Vinamilk đã hoàn thành việc tung mới và tái tung hơn 300 sản phẩm thuộc 15 ngành hàng.
Đây là một sự thay đổi đáng chú ý nếu đặt trong bối cảnh người tiêu dùng ngày nay không còn chỉ tìm kiếm một sản phẩm “ngon và bổ”. Người dùng đã quan tâm nhiều hơn đến dinh dưỡng chuyên biệt, sản phẩm cao cấp, thành phần, trải nghiệm cá nhân hóa và những giá trị liên quan đến sức khỏe lâu dài.
Thông qua việc phát triển các công nghệ kép hút chân không, siêu vi lọc, xay nguyên hạt và công thức 6 HMO, nhiều sản phẩm được doanh nghiệp giới thiệu là lần đầu tiên tại Việt Nam và nhanh chóng được người dùng đón nhận. Đằng sau những thay đổi về sản phẩm là một sự dịch chuyển lớn hơn về tư duy: thị trường tương lai không thể chỉ dựa vào những sản phẩm từng thành công trong quá khứ.
Nhìn về hàng sữa 100 năm tuổi, tại sao không?
Nếu trong quá khứ, câu hỏi thường là “hàng Việt có thể cạnh tranh với hàng ngoại hay không?”, thì sau 50 năm, câu hỏi đã có thể chuyển thành “thương hiệu Việt có thể đi bao xa trên thị trường quốc tế?”.
50 năm là một chặng đường đủ dài để nhìn thấy sự thay đổi của cả một ngành kinh tế. Thế hệ người tiêu dùng mới có những tiêu chuẩn khác. Họ quan tâm đến dinh dưỡng cá nhân hóa, nguồn gốc nguyên liệu, công nghệ sản xuất, tính minh bạch, môi trường và trải nghiệm số. Thành công của 50 năm trước vì thế không phải là tấm vé bảo đảm cho 50 năm tiếp theo.
Chính Vinamilk cũng đang đứng trước một cuộc cạnh tranh mới: cạnh tranh bằng công nghệ, bằng chất lượng, bằng khả năng đổi mới, bằng năng lực phát triển bền vững và bằng sự thấu hiểu người tiêu dùng.
Theo bà Liên, từ một doanh nghiệp phục vụ nhu cầu trong nước, Vinamilk hôm nay đã trở thành một doanh nghiệp xuất siêu, mang nguồn ngoại tệ về đóng góp vào sự thịnh vượng chung của dân tộc.
50 năm tiếp theo của Vinamilk sẽ là hành trình kiến tạo những giá trị lâu dài cho sức khỏe cộng đồng, cho môi trường bền vững và cho vị thế của thương hiệu Việt Nam trên trường quốc tế.
Sữa sẽ luôn là nguồn dinh dưỡng thiết yếu và Vinamilk sẽ tiếp tục sứ mệnh phụng sự để giúp người Việt Nam khỏe mạnh hơn và hạnh phúc hơn.
Xem tiếp tại đường Link =>
50 năm Vinamilk đi cùng người Việt, vươn ra thế giới
Mười năm trước, lớp học đầu tiên của Câu lạc bộ tiếng Việt tại Malaysia không có bảng hiệu, cũng chưa có một phòng học đúng nghĩa, nhưng đến nay thì học trò của chị Nguyễn Thị Liên không chỉ là trẻ em người Việt mà còn có cả Cảnh sát biển Malaysia.
Từ 2 lớp nhỏ khai giảng vào tháng 10.2016, những lớp tiếng Việt dần có học sinh ở nhiều nơi tại Malaysia. Còn chị Liên, một giáo viên ngữ văn quê Thanh Hóa, từ công việc đứng lớp đã bước vào hành trình hoạt động cộng đồng mà chính chị có lẽ cũng không hình dung hết khi bắt đầu.
Từ một phòng khách
Ý tưởng mở lớp tiếng Việt miễn phí cho con em người Việt tại Malaysia được Hội Phụ nữ Việt Nam tại Malaysia khởi xướng năm 2016. Là giáo viên, thấy công việc phù hợp với chuyên môn của mình, chị Liên nhận lời đứng ra tổ chức và trực tiếp giảng dạy.
Nhưng từ ý tưởng đến lớp học đầu tiên là cả một quãng đường. Chị cùng các chị em trong nhóm chọn giáo trình, vận động các gia đình cho con đi học, tìm địa điểm... Với sự hỗ trợ của Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia, hội phụ nữ và cộng đồng, tháng 10.2016, 2 lớp đầu tiên chính thức khai giảng. Hơn 1 năm đầu, phòng khách của một thành viên câu lạc bộ trở thành lớp học. Sau đó, Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia hỗ trợ địa điểm và các lớp học được duy trì cho đến nay.
Điều giữ chân chị Liên suốt 10 năm rất giản dị: Chị thích dạy học. Nhưng còn một lý do khác. "Sống ở nước ngoài, tôi luôn mong muốn con mình giữ được tiếng Việt, giữ được bản sắc Việt Nam, nên tôi cũng muốn giúp các cháu nhỏ trong cộng đồng giữ tiếng Việt, giữ được một sự gắn kết nhất định với quê hương, đất nước", chị chia sẻ.
Rồi lớp học dần vượt ra khỏi giới hạn của một lớp học.
Buổi học im phăng phắc
Trong rất nhiều học sinh đã đến với lớp tiếng Việt suốt 10 năm, ký ức khiến chị Liên nhớ nhất lại đến vào thời điểm mọi người không thể gặp nhau.
Đó là những ngày dịch Covid-19. Lớp tiếng Việt được chuyển lên mạng. Một tối chủ nhật, khoảng 10 học sinh từ 8 - 11 tuổi cùng học chủ đề "Gia đình". Cuối buổi, chị Liên mở cho các em nghe bài Nhật ký của mẹ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung qua phần thể hiện của ca sĩ Hiền Thục.
Một lớp học vốn thường xuyên sôi nổi bỗng im phăng phắc. Trên màn hình máy tính, chị nhìn thấy vài học sinh đưa tay lau nước mắt. "Tôi lặng người", chị kể và cho biết dù từng nghe bài hát ấy nhiều lần và cũng nhiều lần xúc động, nhưng tối hôm đó, điều khiến cô giáo rơi nước mắt lại là những đứa trẻ trước màn hình.
"Vậy là một bài hát tiếng Việt đã chạm được vào trái tim non trẻ của những cô cậu bé người Việt sinh ra, lớn lên ở nước ngoài, đánh thức những rung cảm rất đẹp trong các cháu. Trong khoảnh khắc ấy, tôi thấy công việc mình làm thực sự có ý nghĩa", chị nhớ lại.
Với chị Liên, lớp tiếng Việt vì thế không dừng ở chuyện trẻ đọc đúng hay viết đúng. Những buổi học, hoạt động ngoại khóa, trò chơi dân gian, văn nghệ hay những ngày lễ truyền thống còn tạo ra một không gian để những gia đình Việt gặp nhau và để những đứa trẻ lớn lên xa quê có thêm một điểm chung: tiếng Việt.
Khi học trò là Cảnh sát biển Malaysia
Nhưng có một ngày, học trò của chị Liên không còn là những cô cậu bé người Việt. Họ là các thành viên Cảnh sát biển Malaysia. Khóa tiếng Việt giao tiếp đặc biệt này được tổ chức trong giai đoạn dịch Covid-19, qua sự kết nối của Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia. Mục đích ban đầu rất thực tế: giúp phía Cảnh sát biển Malaysia có thể giao tiếp với ngư dân Việt Nam tại vùng biển tiếp giáp 2 nước.
"Điều khiến tôi ấn tượng là các học viên rất nghiêm túc, chăm chỉ", chị kể và cho biết còn gặp những doanh nhân, hướng dẫn viên du lịch người Malaysia tìm học tiếng Việt vì nhu cầu công việc.
Thế là bài học không chỉ còn những câu giao tiếp. Từ tiếng Việt, chị kể với học viên về đàn bầu, phở, gỏi cuốn, cà phê, những địa danh của Việt Nam… "Ngôn ngữ luôn là cây cầu kết nối. Tiếng Việt không chỉ gắn kết người Việt với quê hương mà còn là nhịp cầu kết nối người Việt với bạn bè sở tại", chị Liên nói.
Có lẽ cũng từ quan niệm ấy, hành trình hoạt động cộng đồng của chị ngày càng rộng hơn. Từ Câu lạc bộ tiếng Việt, chị tham gia Hội Phụ nữ Việt Nam tại Malaysia, các hoạt động thiện nguyện, giao lưu văn hóa, quảng bá áo dài... Với chị, gìn giữ bản sắc không có nghĩa là khép cộng đồng lại trong những giá trị riêng của mình.
"Từng mảnh ghép đẹp sẽ làm thành một Việt Nam đẹp"
Nếu một người bạn Malaysia hỏi: "Việt Nam của chị là gì?", Nguyễn Thị Liên nói chị sẽ kể về ngày Giỗ tổ Hùng Vương. Trong câu chuyện ấy có truyền thuyết con Rồng cháu Tiên, có bánh chưng, bánh dày, nền văn minh lúa nước và trên hết là tinh thần nhớ về nguồn cội.
Nhưng sau nhiều năm sống ở nước ngoài, chị còn có một cách khác để nghĩ về hình ảnh Việt Nam. Đó là hình ảnh được tạo nên từ chính mỗi người Việt khi bước ra thế giới. Và nếu không phải là người Việt duy nhất họ từng gặp, mỗi người ít nhất cũng là một phần trong cách bạn bè quốc tế hình dung về đất nước này. Như cách chị Liên ví von: "Từng mảnh ghép đẹp sẽ làm thành một Việt Nam đẹp trong mắt bạn bè".
Hành trình 10 năm với cộng đồng Việt
Giáo viên ngữ văn, giáo viên tiếng Việt, quê Thanh Hóa; sinh sống và hoạt động cộng đồng tại Malaysia.
Chủ nhiệm Câu lạc bộ tiếng Việt tại Malaysia (2016 - 2026).
Xem tiếp tại đường Link =>
Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Battambang phối hợp cùng các tổ chức thăm khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí và trao tặng quà cho 500 bà con gốc Việt cùng người Khmer có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh Siem Reap (Campuchia).
Nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh và mùa Lễ Vu Lan, Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Battambang (Campuchia) phối hợp cùng Chi nhánh Tỉnh hội Khmer - Việt Nam tỉnh Siem Reap, Hội Chữ thập đỏ Bệnh viện huyện Châu Phú và Đoàn cứu trợ y, bác sĩ thiện nguyện Tâm Phúc đã tổ chức chương trình thăm khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí và trao tặng quà cho 500 bà con gốc Việt cùng người Khmer có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh Siem Reap, Vương quốc Campuchia.
Chương trình là hoạt động thiết thực, thể hiện tinh thần nhân ái, truyền thống "tương thân tương ái", "lá lành đùm lá rách" của dân tộc Việt Nam, đồng thời lan tỏa tình cảm đoàn kết, gắn bó và sự quan tâm sâu sắc dành cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Những phần quà tuy mang giá trị vật chất không lớn nhưng chứa đựng tình cảm chân thành, sự sẻ chia và nguồn động viên tinh thần quý báu, giúp bà con vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.
Trong khuôn khổ chương trình, đội ngũ y, bác sĩ thiện nguyện đã tận tình thăm khám, tư vấn sức khỏe, cấp phát thuốc miễn phí, góp phần chăm sóc và nâng cao đời sống sức khỏe cho bà con có hoàn cảnh khó khăn. Sự tận tâm, trách nhiệm của các y, bác sĩ cùng sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị tổ chức đã để lại nhiều tình cảm tốt đẹp trong lòng người dân địa phương.
Đối với cộng đồng bà con gốc Việt tại tỉnh Siem Reap, chương trình càng có ý nghĩa sâu sắc, thể hiện sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước và các cơ quan đại diện Việt Nam đối với kiều bào ở nước ngoài. Bà con gốc Việt ở nước ngoài luôn là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, như tinh thần được khẳng định trong Nghị quyết số 23 của Bộ Chính Trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.
Hoạt động nhân đạo ý nghĩa này không chỉ góp phần hỗ trợ những hoàn cảnh còn nhiều khó khăn mà còn củng cố tình đoàn kết, vun đắp mối quan hệ gắn bó giữa cộng đồng người Việt và nhân dân Campuchia. Đây cũng là dịp để lan tỏa những giá trị tốt đẹp của lòng nhân ái, tình đồng bào và trách nhiệm cộng đồng, đặc biệt trong những ngày lễ trọng đại của dân tộc và mùa Vu Lan đầy ý nghĩa.
Xem tiếp tại đường Link =>
Trao tặng 500 phần quà cho bà con gốc Việt và người dân khó khăn tại tỉnh Siem Reap
Nguồn: VietnamPlus; Nhân Dân; Tuổi Trẻ; Việt Nam
Việt Nam: Nhà hàng lớn nhất thế giới; Siêu công trình hầm - cầu vượt biển; Lọt top 4 ngành đóng tàu toàn cầu; Điều tra số tiền 200.000.000 đồng; Kinh doanh online hết thời trốn thuế
Việt Nam: Sửa Luật Kinh doanh bất động sản; 244 doanh nghiệp nợ thuế; Xây “siêu” tòa tháp 408 m; Lũ trên các sông lên nhanh, cảnh báo khẩn cấp nhiều tỉnh
Người Việt hải ngoại: Kim Hiền thăm nhà cũ; 155 người lừa đảo ở Tam giác Vàng; “Bí kíp” du lịch Nga; Đưa máy chém tới Washington; Chống lừa đảo cho lao động tại Philippines
Người Việt hải ngoại: Nữ tiến sĩ chinh phục thế giới; Bồi đắp bản sắc trong lòng thế giới; Lễ Vu lan tại Lào; Cộng đồng sau lũ quét ở Nepal; Phạt lao động tự ý ở lại nước ngoài
Người Việt hải ngoại: Người đầu tiên đến Mỹ; Kỹ sư ở Úc tạo “máy bắn tơ”; 50 kiều bào dự trại hè TP.HCM; Cảnh báo nhập cảnh; Phở, ghế nhựa xuất hiện trong MV Kpop
Việt Nam: Xác minh giao dịch 122.000.000 đồng; Bước ngoặt dự án lịch sử; Café chinh phục Hàn Quốc; Chủ tịch Cadisun giấu 1.400 tỷ doanh thu; Kiểm tra 11 thực phẩm chức năng
Người Việt hải ngoại: Lan tỏa tiếng Việt ở Nhật; Mở rộng không gian tiếng Việt; “Một ngày vị Việt” ở Anh; Kết nối trí tuệ tại Phần Lan; 16 gia đình đa văn hóa ở Hàn về thăm quê
Việt Nam: Điều tra giao dịch 61.000.000 đồng; Xây dựng casino 2 tỷ USD; Có thêm 2 thành phố; Bãi nhiệm Chủ tịch Hội nhà văn; Dây chuyền café 350.000 sản phẩm/ngày
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá