.jpg)
ĐẶC VỤ BẮN CHẾT NGƯỜI, BIỂU TÌNH LAN RỘNG
Biểu tình đang lan rộng ở bang Minnesota và nhiều nơi khác, sau khi đặc vụ di trú Mỹ bắn chết một người mẹ 37 tuổi có ba con vào ngày 7/1.
Cục Di trú và Hải quan (ICE) vẫn hiện chưa công bố danh tính đặc vụ đã bắn chết công dân Mỹ Renee Nicole Good tại một khu dân cư ở thành phố Minneapolis. Điều này càng khiến sự bất bình leo thang trong công chúng tại bang Minnesota và nhiều nơi khác của nước Mỹ.
Biểu tình lan rộng khắp nước Mỹ
Hôm thứ Năm, hàng nghìn người biểu tình đã tập trung tại một tòa nhà liên bang nơi đặt tòa án nhập cư, hô vang "đáng xấu hổ" và "giết người" vào các cảnh sát liên bang có vũ trang và đeo mặt nạ, một số người trong số họ đã sử dụng hơi cay và đạn hơi cay đối với người biểu tình.
Các cuộc biểu tình cũng đang diễn ra hoặc được lên kế hoạch ở các thành phố khác, bao gồm New York, Chicago, Seattle, Los Angeles và Philadelphia.
Thống đốc Đảng Dân chủ bang Minnesota, Tim Walz, đã đặt Lực lượng Vệ binh Quốc gia của tiểu bang trong tình trạng báo động, và các trường công lập ở Minneapolis đã đóng cửa vào thứ Năm và thứ Sáu như một biện pháp phòng ngừa.
Theo tờ Washington Post, Good, người gốc Colorado, có một con gái 15 tuổi và hai con trai 12 và 6 tuổi. Cô tốt nghiệp ngành tiếng Anh năm 2020 tại Đại học Old Dominion ở Virginia.
Các video cho thấy hai đặc vụ đeo mặt nạ tiến đến xe của Good, chiếc xe đang chắn ngang trên một con phố ở Minneapolis. Khi một sĩ quan yêu cầu Good ra khỏi xe và túm lấy tay nắm cửa, chiếc xe lùi lại trong giây lát rồi bắt đầu chạy về phía trước, rẽ phải trong một nỗ lực nhằm rời khỏi hiện trường.
Một sĩ quan thứ ba tiến đến phía trước xe của cô ấy và bắn ba phát, phát súng cuối cùng nhắm xuyên qua cửa kính xe bên lái. Theo video, đặc vụ này vẫn đứng vững và có thể thấy đang đi lại sau vụ việc. Bộ trưởng An ninh Nội địa Hoa Kỳ Kristi Noem cho biết đặc vụ này đã được đưa đến bệnh viện và xuất viện cùng ngày.
Chiến dịch ở Minnesota, một phần trong chiến dịch trấn áp người nhập cư trên toàn quốc của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump, gồm cộng đồng người Somalia ở Minnesota. Ông Trump từng gọi người Mỹ gốc Somalia ở Minnesota là "rác rưởi".
Đặc vụ ICE đã bắn Good nằm trong số 2.000 sĩ quan liên bang mà chính quyền Mỹ tuyên bố sẽ triển khai đến khu vực Minneapolis trong điều mà Bộ An ninh Nội địa mô tả là "chiến dịch lớn nhất từ trước đến nay" của Bộ An ninh Nội địa Mỹ (DHS).
“Che đậy sự thật”?
Cục Điều tra Hình sự Minnesota (BCA) cho biết hôm thứ Năm rằng ban đầu họ đã đồng ý với FBI tiến hành một cuộc điều tra chung về vụ tấn công, nhưng cơ quan liên bang đã "thay đổi quyết định" và nắm quyền kiểm soát hoàn toàn cuộc điều tra.
Theo giám đốc BCA, Drew Evans, quyết định này có nghĩa là cục điều tra của tiểu bang sẽ không còn được tiếp cận với bằng chứng tại hiện trường, tài liệu vụ án hoặc các cuộc phỏng vấn. "Do đó, BCA đã bất đắc dĩ rút khỏi cuộc điều tra", Evans nói.
Bộ trưởng An ninh Nội địa Mỹ Kristi Noem nói với các phóng viên ở New York rằng BCA không bị "loại bỏ" nhưng không có thẩm quyền.
Thống đốc đảng Dân chủ bang Minnesota, Tim Walz, phát biểu tại một cuộc họp báo rằng bất kỳ cuộc điều tra liên bang nào được tiến hành mà không có sự tham gia của tiểu bang đều có thể bị coi là "che đậy sự thật".
Các quan chức Bộ An ninh Nội địa (DHS), bao gồm cả bà Noem, đã lý giải vụ nổ súng là hành động tự vệ và cáo buộc người phụ nữ cố tình đâm xe vào các đặc vụ trong một hành động "khủng bố nội địa". Thị trưởng Minneapolis, ông Jacob Frey, một đảng viên Dân chủ, đã gọi lời khẳng định đó là "vô lý" và "rác rưởi" dựa trên các video do người ngoài quay lại vụ việc.
Giới chức địa phương đang yêu cầu rút các đặc vụ liên bang khỏi thành phố Minneapolis, nhưng tờ New York Times đưa tin rằng chính quyền đang điều động thêm hơn 100 nhân viên Hải quan và Biên phòng từ các thành phố khác sau vụ xả súng.
Phó Tổng thống JD Vance đã tái khẳng định luận điểm của chính quyền liên bang Mỹ tại cuộc họp báo ở Nhà Trắng hôm thứ Năm, liên tục gọi hành động của Good là một "cuộc tấn công" vào lực lượng thực thi pháp luật và nói rằng đặc vụ này "đáng được biết ơn". Ông cũng bác bỏ quan điểm cho rằng đặc vụ này có thể bị truy tố.
NGHỊCH LÝ KINH TẾ MỸ: NGƯỜI KIẾM NHIỀU TIỀN VẪN THẤY NGHÈO, CHẬT VẬT CẢ VỚI CHI PHÍ TRÔNG TRẺ, VÌ ĐÂU?
Giấc mơ Mỹ đang ngày càng xa tầm với của nhiều người dân nước này. Nguyên nhân không chỉ vì giá nhà ở hay việc thuê người trông trẻ trở nên quá đắt đỏ, với nhiều người Mỹ, những thứ đó thậm chí còn không tồn tại để lựa chọn.
Vấn đề chi phí sinh hoạt ở Mỹ là có thật. Thị trường lao động suy yếu khiến mức tăng lương ngày càng khiêm tốn. Trong khi đó, giá cả liên tục tăng, đặc biệt là các mặt hàng thiết yếu như thực phẩm và năng lượng.
Trong vài năm trở lại đây, tiền lương thực tế đã tăng nhanh hơn lạm phát. Nhiều người Mỹ hiện kiếm được nhiều tiền hơn so với trước đại dịch. Tuy nhiên, tâm lý bi quan về kinh tế vẫn bao trùm. Nguyên nhân có thể không nằm ở những thứ người Mỹ có thể mua, mà ở những thứ họ không thể có, dù sẵn sàng trả bất kỳ mức giá nào.
Hai ví dụ rõ nhất là nhà ở và dịch vụ chăm sóc trẻ em. Thị trường nhà ở gần như đóng băng trong nhiều năm đã chặn đứng cơ hội của cả một thế hệ người mua nhà lần đầu. Nhiều gia đình đông người nhưng buộc phải sống trong những căn nhà chật chội. Tại nhiều khu vực ở Mỹ, số lượng nhân viên chăm sóc trẻ em không đủ để đáp ứng nhu cầu của các gia đình có cha mẹ đi làm.
Thực tế này đẩy nhiều người Mỹ vào thế tiến thoái lưỡng nan. Nhiều người đã bước vào khung chịu thuế cao hơn nhưng không thể tận hưởng những đặc quyền của cuộc sống thu nhập cao. Trong khi đó, những người khác lại có cảm giác ngày càng tụt lại phía sau.
Nhà ở
Chi phí mua nhà đã tăng mạnh trong những năm gần đây. Nguyên nhân chính là thị trường nhà ở trì trệ một cách bất thường, trong khi lãi suất thế chấp vượt mốc 6%. Mức này cao gấp 3 lần so với giai đoạn ngay sau đại dịch.
Theo Hiệp hội Môi giới Bất động sản Quốc gia Mỹ, doanh số nhà ở có sẵn đã ở trạng thái trì trệ trong nhiều năm, chỉ quanh mức 4 triệu căn mỗi năm từ 2022. Ngoại trừ giai đoạn ngắn vào mùa xuân năm 2020, lượng nhà có sẵn và doanh số hiện đều gần mức thấp nhất kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính và nhà ở kết thúc năm 2010.
Tình trạng thiếu nguồn cung càng trầm trọng hơn do hoạt động xây dựng nhà ở gần như chững lại trong cuộc khủng hoảng 2007-2009 và chưa bao giờ phục hồi hoàn toàn. Theo Goldman Sachs Research, Mỹ hiện thiếu khoảng 4 triệu căn nhà để có thể giải quyết tình trạng khan hiếm và đưa giá nhà trở lại mức có thể chi trả.
Dịch vụ chăm sóc trẻ em
Chi phí chăm sóc trẻ em cũng đang trở thành gánh nặng của nhiều gia đình Mỹ. Tại hầu hết các bang của Mỹ, chi phí chăm sóc hai trẻ em cao hơn cả tiền thuê nhà hoặc trả nợ thế chấp. Theo tổ chức Child Care Aware, chi phí chăm sóc trẻ trung bình mỗi năm là 13.128 USD vào năm 2024, tăng 13% so với năm trước.
Tuy nhiên, chi phí cao chỉ là biểu hiện của những khó khăn tài chính nghiêm trọng trong ngành này. Nghiên cứu của Đại học California tại Berkeley cho thấy các cơ sở chăm sóc trẻ đang chịu áp lực lớn về tài chính.
Theo giáo sư William T. Gormley của Đại học Georgetown, vấn đề của ngành chăm sóc trẻ không chỉ là chi phí, mà còn là khả năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ.
Lương của người lao động trong lĩnh vực chăm sóc trẻ và giáo dục mầm non thấp hơn 97% các ngành nghề khác tại Mỹ. Nguyên nhân đến từ mức hỗ trợ công hạn chế của chính phủ. Chi phí ngày càng tăng đang buộc nhiều gia đình phải cắt giảm. Trong nhiều trường hợp, cha hoặc mẹ, thường là phụ nữ, phải nghỉ việc để ở nhà chăm sóc con cái.
Theo dữ liệu của Cục Thống kê Lao động Mỹ, chi phí trông trẻ ban ngày và mẫu giáo đang tăng gần gấp đôi tốc độ lạm phát chung. Một báo cáo của Cục Điều tra Dân số Mỹ công bố vào tháng 4 cho thấy chi phí chăm sóc trẻ tăng cao có tác động tiêu cực trực tiếp đến tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của các bà mẹ.
Năm 2025, tỷ lệ tham gia lao động của phụ nữ đã sụt giảm, đảo chiều so với những thành quả đạt được sau đại dịch. Nhóm phụ nữ có con dưới 5 tuổi là lực lượng rời bỏ thị trường lao động nhiều nhất.
HỆ LỤY CỦA CHỦ NGHĨA BIỆT LẬP
.jpg)
Việc Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố rút khỏi 66 tổ chức, cơ quan và ủy ban quốc tế không gây bất ngờ, bởi đây là bước đi tiếp nối "chủ nghĩa biệt lập" 2.0 đã được ông chủ Nhà Trắng thực thi ngay từ khi bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai cách đây 1 năm.
Theo thông báo của Nhà Trắng, Mỹ sẽ rút khỏi 35 tổ chức không thuộc Liên hợp quốc (LHQ) và 31 cơ quan trực thuộc LHQ, bị cho là “không còn phục vụ lợi ích của nước Mỹ”. Quyết định này kéo theo việc Mỹ chấm dứt tham gia và ngừng tài trợ sau quá trình rà soát vai trò và mức độ đóng góp của Washington. Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng nhiều tổ chức cơ quan trong danh sách có chức năng chồng chéo, quản trị yếu kém, lãng phí, hoặc chịu tác động của các lợi ích đi ngược lại chủ quyền và sự thịnh vượng của Mỹ, đặc biệt trong các lĩnh vực như biến đổi khí hậu, lao động và phát triển xã hội.
Động thái trên nằm trong quỹ đạo chính sách đối ngoại cứng rắn theo hướng "chủ nghĩa biệt lập" mà chính quyền Tổng thống Trump theo đuổi. Tháng 2/2025, ngay khi trở lại Nhà Trắng, ông Trump đã ký Sắc lệnh 14199, theo đó Mỹ rút và ngừng tài trợ một số tổ chức của LHQ, xem xét lại việc hỗ trợ tất cả các tổ chức quốc tế.
Những bước đi trước đó bao gồm cắt giảm mạnh tài trợ của Mỹ cho LHQ, chấm dứt tham gia Hội đồng Nhân quyền LHQ, gia hạn lệnh tạm ngừng tài trợ cho Cơ quan Cứu trợ và việc làm của LHQ dành cho người tị nạn Palestine (UNRWA) và rút khỏi Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của LHQ (UNESCO). Mỹ cũng thông báo kế hoạch rút khỏi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Hiệp định Paris năm 2015 về biến đổi khí hậu, đồng thời áp dụng một chiến lược được mô tả là “chọn lọc” trong cam kết tài trợ, chỉ đóng góp cho những cơ quan được cho là phù hợp với ưu tiên chính sách của chính quyền đương nhiệm.
Trong khi chính quyền Mỹ coi đây là bước đi nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia và tái ưu tiên nguồn lực cho cạnh tranh chiến lược, giới chính trị tại Mỹ đưa ra những quan điểm trái ngược. Các chuyên gia chính sách và cựu quan chức Mỹ đã lên tiếng mạnh mẽ, đặt câu hỏi về tác động lâu dài đối với vị thế toàn cầu của Washington và vai trò dẫn dắt của Mỹ trong các diễn đàn quốc tế mà nước này đã xây dựng nhiều thập niên, đặc biệt là Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu (UNFCCC) - nền tảng của hợp tác quốc tế nhằm giải quyết khủng hoảng khí hậu và đã được mọi quốc gia trên thế giới nhất trí kể từ khi ra đời cách đây gần 34 năm. Rachel Cleetus, chuyên gia của Union of Concerned Scientists (tổ chức phi lợi nhuận hoạt động vì bảo vệ khoa học, có trụ sở tại Mỹ), cho rằng đây là “một bước thụt lùi mới”, có nguy cơ làm suy giảm vị thế của Mỹ trên trường quốc tế.
Bà Gina McCarthy, cựu cố vấn khí hậu Nhà Trắng đánh giá bước đi này làm suy giảm khả năng của Mỹ trong việc định hình các dòng đầu tư và chính sách toàn cầu trị giá hàng nghìn tỷ USD. Cựu Phó Tổng thống Al Gore nhận định chính quyền ông Trump đã nhất quán “quay lưng” với cuộc khủng hoảng khí hậu thông qua việc thu hẹp hạ tầng khoa học và đầu tư cho năng lượng sạch.
Nhà khoa học khí hậu Rob Jackson (Đại học Stanford, Mỹ), người đứng đầu Dự án Carbon toàn cầu, một nhóm các nhà khoa học theo dõi lượng khí thải carbon dioxide của các quốc gia, cảnh báo việc Mỹ rút khỏi các khuôn khổ khí hậu sẽ làm suy yếu nỗ lực chung, tạo tiền lệ để các nước khác trì hoãn cam kết của của mình.
Theo ông Manish Bapna, Chủ tịch Hội đồng Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên (NRDC), một trong những nhóm môi trường có ảnh hưởng nhất của Mỹ, quyết định này tiếp tục làm giảm khả năng cạnh tranh của Mỹ, trong bối cảnh Trung Quốc đang ngày càng chiếm ưu thế trong các ngành công nghệ năng lượng sạch đang phát triển nhanh trên toàn cầu. Đáng lưu ý là hiện nhiều quốc gia khác vẫn đang đẩy mạnh chuyển dịch sang các nguồn năng lượng sạch và tăng cường hành động khí hậu. Điều này đồng nghĩa với việc Mỹ có nguy cơ đánh mất cơ hội tiếp cận các dòng đầu tư trị giá hàng nghìn tỷ USD gắn với quá trình chuyển đổi năng lượng, vốn đang được các nước theo đuổi.
Ngoài UNFCCC, trong danh sách 66 cơ quan nói trên còn có Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) - cơ quan khoa học hàng đầu của LHQ nghiên cứu về biến đổi khí hậu và là cơ sở để nhiều chính phủ xây dựng chính sách. Chuyên gia Delta Merner, thuộc Union of Concerned Scientists, nhận định rút khỏi IPCC đồng nghĩa Mỹ tự loại mình khỏi nguồn khoa học khí hậu đáng tin cậy nhất thế giới.
Dù các nhà khoa học Mỹ vẫn có thể tham gia với tư cách cá nhân, Washington sẽ không còn vai trò trong việc định hướng các báo cáo nền tảng mà nhiều chính phủ dựa vào để hoạch định chính sách. Điều này, theo các chuyên gia, làm suy yếu “hàng rào khoa học”, khiến các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp Mỹ thiếu dữ liệu đáng tin cậy đúng vào thời điểm nhu cầu thông tin chính xác ngày càng cấp thiết.
Trong cách lý giải của chính quyền Mỹ, việc rút khỏi một loạt cơ chế đa phương được xem là nhằm tái phân bổ nguồn lực và tập trung vào một số sáng kiến mang tính định hướng của LHQ và phục vụ trực tiếp lợi ích quốc gia như tại Liên minh Viễn thông quốc tế, Tổ chức Hàng hải quốc tế và Tổ chức Lao động quốc tế, qua đó mở rộng ảnh hưởng của Washington trong cạnh tranh với các đối thủ. Ở đây bộc lộ một nghịch lý rõ rệt: trong khi Mỹ thu hẹp vai trò tại nhiều cơ chế toàn cầu về khí hậu, phát triển và luật lệ quốc tế, Washington vẫn coi LHQ là không gian quan trọng để duy trì và gia tăng ảnh hưởng trong một số lĩnh vực.
Theo giới quan sát, cách tiếp cận này phá vỡ truyền thống kế thừa của các chính quyền Mỹ trước đây, buộc LHQ phải cắt giảm nhân sự và chương trình trong bối cảnh áp lực cải tổ ngày càng gia tăng. Ông Daniel Forti, người đứng đầu bộ phận các vấn đề LHQ tại Nhóm khủng hoảng quốc tế (ICG, trụ sở chính tại Brussels, Bỉ), lưu ý cách tiếp cận của Mỹ đối với chủ nghĩa đa phương là Washington chỉ sẵn sàng tham gia hợp tác quốc tế nếu các khuôn khổ đó hoàn toàn phù hợp với điều kiện và ưu tiên do Mỹ đặt ra, thay vì thỏa hiệp và đồng thuận đa phương.
Giới phân tích cho rằng, dưới góc nhìn ngắn hạn, việc rút khỏi các cơ chế đa phương giúp Mỹ tái phân bổ nguồn lực và tập trung vào cạnh tranh chiến lược. Tuy nhiên, về dài hạn, bước đi này có thể làm xói mòn vai trò lãnh đạo toàn cầu, làm suy giảm "quyền lực mềm" cũng như tầm ảnh hưởng của Washington, trong bối cảnh các thách thức xuyên quốc gia như biến đổi khí hậu, dịch bệnh và an ninh phi truyền thống ngày càng đòi hỏi hợp tác đa phương. Quyết định của Tổng thống Trump có thể là một bước tiến trong tính toán chiến thuật, nhưng lại là bước lùi lớn trong việc định hình trật tự hợp tác toàn cầu mới vốn đang đối mặt với những thách thức chung ngày càng phức tạp.
TỊCH THU TÀU NGA, TOAN TÍNH LÀ GÌ?
Mỹ vừa thực hiện một trong những động thái khiêu khích nhất nhằm vào Mátxcơva kể từ khi ông Trump trở lại Nhà Trắng, khi tiến hành chiến dịch quân sự để tịch thu con tàu chở dầu treo cờ Nga trên Bắc Đại Tây Dương
Tháng 12 vừa qua, chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết họ theo đuổi mục tiêu đạt được “ổn định chiến lược với Nga”. Tuy nhiên, mục tiêu này nhanh chóng va chạm trực diện với ưu tiên còn cao hơn của ông Trump: Phô diễn sức mạnh của nước Mỹ.
Ngày 7/1, Mỹ thực hiện một trong những động thái khiêu khích nhất nhằm vào Mátxcơva kể từ khi ông Trump trở lại Nhà Trắng, khi tiến hành chiến dịch quân sự để tịch thu con tàu chở dầu treo cờ Nga trên Bắc Đại Tây Dương. Chiến dịch này có sự tham gia của máy bay săn ngầm P-8 của Hải quân Mỹ và các máy bay cường kích sát thủ AC-130.
Các quan chức Mỹ cho biết chiến dịch nhằm thực thi lệnh phong tỏa xuất khẩu dầu của Venezuela, đồng thời mô tả chiếc tàu là “không quốc tịch”.
Tuy nhiên, đối với Nga, hành động này bị coi là sự xúc phạm mới nhất từ nhà lãnh đạo vốn không ngần ngại gây tổn hại đến lợi ích của Nga khi thấy phù hợp.
“Đây là hành vi cướp biển của thế kỷ 21”, ông Leonid Slutsky, một nghị sĩ cấp cao của Nga, nói với hãng thông tấn Tass .
Sự việc cho thấy Tổng thống Trump vừa dịu giọng Tổng thống Nga Vladimir V. Putin vừa quyết khẳng định vị thế thống trị toàn cầu của Mỹ. Theo các chuyên gia, cách này chứa đựng nhiều mâu thuẫn và tiềm ẩn rủi ro cho cả hai phía.
Một mặt, việc ông Trump có vẻ ưa sử dụng vũ lực để thúc đẩy cái mà ông coi là lợi ích quốc gia - phù hợp với quan niệm của ông Putin về trật tự thế giới bị chi phối và phân chia bởi các cường quốc. Mặt khác, việc tập trung tăng cường và phô diễn sức mạnh cũng làm gia tăng căng thẳng với Nga ở những khu vực như Mỹ Latin, nơi nhà lãnh đạo Nga tìm cách mở rộng ảnh hưởng nhưng vẫn quá bận rộn với cuộc xung đột ở Ukraine.
“Ông Trump giải quyết được bao nhiêu vấn đề cho ông Putin? Theo tôi, là rất ít. Có vẻ như ông ấy gây ra nhiều vấn đề hơn là giải quyết”, ông Michael Kimmage, Giám đốc Viện Kennan tại Washington, một trung tâm nghiên cứu về Liên Xô cũ, nhận xét.
Bất chấp hàng loạt trao đổi với ông Putin, cho đến nay ông Trump vẫn chưa thể buộc Ukraine phải khuất phục để cuộc xung đột chấm dứt, đồng thời tiếp tục chia sẻ những thông tin tình báo có giá trị của Mỹ với Kiev.
Tại châu Âu, theo ông Kimmage, sự bất hòa của ông Trump với các lãnh đạo phương Tây là điều có lợi với Mátxcơva, nhưng việc ép châu Âu tăng đầu tư cho quốc phòng lại không dễ chịu với Điện Kremlin.
Tại Venezuela - đồng minh lâu năm của Nga, cuộc tấn công của Mỹ hôm 3/1 vừa củng cố thế giới quan về “vùng ảnh hưởng” phù hợp với quan điểm của Nga, vừa cho thấy Nga đang phải chấp nhận bỏ qua những điều khác để tập trung vào Ukraine. Nga cũng rơi vào thế khó tương tự với cuộc tấn công của Mỹ và Israel vào Iran trong mùa hè năm ngoái và sự sụp đổ của Tổng thống Syria Bashar al-Assad vào tháng 12/2024.
Cố gắng kiềm chế
Thư ký báo chí Nhà Trắng Karoline Leavitt cho biết, mối quan hệ cá nhân của Tổng thống Trump với Tổng thống Putin và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình “sẽ tiếp tục”, bất chấp những căng thẳng xung quanh Venezuela.
Tuy nhiên, trong bài đăng trên mạng xã hội ngày 7/1 để chỉ trích Na Uy vì không trao giải Nobel Hòa bình cho mình, Tổng thống Trump cho thấy rõ ông nhìn nhận các mối quan hệ đó qua lăng kính sức mạnh quân sự.
“Quốc gia duy nhất mà Trung Quốc và Nga vừa sợ vừa tôn trọng là nước Mỹ được DJT (Donald Trump) tái thiết”, ông Trump viết.
Từ khi bắt đầu nhiệm kỳ 2, ông Trump tìm cách xích lại gần ông Putin, dù nỗ lực dàn xếp cuộc xung đột ở Ukraine vẫn chưa thành công. Tháng 12 vừa qua, Nhà Trắng chính thức hóa cách tiếp cận này trong bản cập nhật tài liệu chính sách đối ngoại quan trọng nhất của họ - Chiến lược An ninh Quốc gia, trong đó khẳng định việc chấm dứt chiến sự ở Ukraine và đạt được “ổn định chiến lược với Nga” là ưu tiên hàng đầu.
Ở Tây bán cầu, cách tiếp cận của Mỹ với Nga mang tính đối đầu hơn. Các quan chức Mỹ mô tả Nga là một trong những đối thủ đã tận dụng quan hệ đối tác với Venezuela để mở rộng ảnh hưởng khắp Mỹ Latin.
Theo báo New York Times , Mỹ đang gây sức ép buộc chính phủ lâm thời Venezuela trục xuất những người Trung Quốc, Nga, Cuba và Iran trong các lĩnh vực quan trọng. Với việc thực thi phong tỏa trên biển để kiểm soát xuất khẩu năng lượng của Venezuela, Mỹ đang nhắm vào “hạm đội tàu bóng tối” mà Nga và các quốc gia sử dụng để vận chuyển dầu.
Ngày 7/1, quân đội Mỹ áp dụng các biện pháp đặc biệt để tịch thu tàu chở dầu từng thoát khỏi sự truy đuổi của Mỹ sau khi bị chặn lại ở vùng biển gần Venezuela để nhận dầu. Trong nỗ lực cuối cùng nhằm tránh bị bắt, con tàu - trước đây mang tên Bella 1 - đã treo cờ Nga. Nga điều ít nhất 1 tàu hải quân tới hộ tống con tàu, đồng thời gửi yêu cầu chính thức đề nghị Mỹ chấm dứt việc truy đuổi.
Tuy nhiên, những động thái đó không thể ngăn cản Mỹ. Washington đã điều máy bay chiến đấu từ các căn cứ ở Anh tham gia chiến dịch truy đuổi và giành quyền kiểm soát con tàu. Bà Leavitt cho biết các thuyền viên có thể sẽ bị đưa về Mỹ để truy tố.
Nga cho rằng vụ tịch thu vi phạm luật pháp quốc tế và yêu cầu trả tự do sớm nhất có thể cho các công dân Nga trên tàu. Tuy vậy, Chính phủ Nga chưa đe dọa sẽ có biện pháp đáp trả. Tổng thống Putin và quân đội Nga chưa đưa ra tuyên bố về vụ việc.
Điều này cho thấy Mátxcơva đang cố gắng kiềm chế, tương tự như khi Mỹ có những hành động ảnh hưởng đến lợi ích toàn cầu của Nga, giống như các cuộc không kích vào Iran. Bằng cách đó, Nga có thể để ngỏ cánh cửa cho một thỏa thuận có lợi cho họ ở Ukraine.
CÁCH ĐỂ TRUMP 'CHIẾM' GREENLAND?
.jpg)
Tổng thống Mỹ Donald Trump muốn chiếm Greenland và Nhà Trắng đã xác nhận rằng tất cả các phương án đều đang được xem xét, bao gồm cả việc sử dụng vũ lực.
Trong khi chiến dịch quân sự chỉ là một trong số nhiều lựa chọn kinh tế và chính trị đang được cân nhắc, vì đó sẽ là cuộc tấn công của một thành viên NATO vào một thành viên khác, hành động như vậy sẽ là một kịch bản ác mộng đối với NATO và có khả năng là một mối đe dọa đến sự tồn tại của liên minh này.
Tổng thống Mỹ đã nhiều lần nói rằng Greenland rất quan trọng đối với an ninh quốc gia của Mỹ, tuyên bố mà không có bằng chứng rằng nơi đây "bị bao quanh với tàu chiến Nga và Trung Quốc khắp nơi".
Với sự đóng góp chuyên môn của các chuyên gia Mỹ, Anh và Đan Mạch, chúng ta sẽ xem các phương án khác nhau mà vị tổng thống có thể đang nhắm đến cũng như lý do có thể biện minh cho mỗi phương án.
Hành động quân sự
Các nhà phân tích quốc phòng cho rằng một chiến dịch chớp nhoáng để chiếm Greenland có thể được thực hiện tương đối dễ dàng, nhưng hậu quả sẽ vô cùng to lớn.
Mặc dù có diện tích địa lý rộng lớn, dân số của Greenland chỉ khoảng 58.000 người, trong đó khoảng một phần ba tập trung ở thủ đô Nuuk, phần lớn còn lại sống ở bờ biển phía tây.
Lãnh thổ này không có quân đội riêng và Đan Mạch chịu trách nhiệm quốc phòng, nhưng lực lượng không quân và hải quân của họ lại hạn chế so với quy mô lãnh thổ rộng lớn như vậy.
Nhiều khu vực rộng lớn chỉ được bảo an bởi Sirius Patrol, một đơn vị đặc nhiệm của Đan Mạch chủ yếu dựa vào xe trượt tuyết chó kéo.
Tuy nhiên, trong năm qua, Đan Mạch đã tăng đáng kể chi tiêu quốc phòng ở các khu vực Bắc Cực và Bắc Đại Tây Dương, bao gồm cả ở Greenland.
Kích thước rộng lớn, dân thưa thớt và thiếu quân đội khiến Greenland trở thành mục tiêu dễ dàng cho Mỹ, quốc gia hiện đã có hơn 100 quân nhân đóng quân thường trực tại cơ sở Pituffik ở mũi tây bắc Greenland.
Về lý thuyết, cơ sở này có thể đóng vai trò là căn cứ hậu cần cho các chiến dịch trong tương lai.
Căn cứ này đã tồn tại từ Thế chiến II, khi quân đội Mỹ triển khai đến đảo để thiết lập các trạm quân sự và vô tuyến sau khi Đức Quốc xã chiếm đóng Đan Mạch trong cuộc xung đột.
Hans Tino Hansen, một chuyên gia an ninh người Đan Mạch và Giám đốc điều hành của Risk Intelligence, đã phác thảo cách thức một chiến dịch của Mỹ nhằm chiếm Greenland có thể diễn ra.
Theo ông Hansen, Sư đoàn Dù số 11 đóng tại Alaska – bao gồm hai lữ đoàn Bắc Cực có khả năng thực hiện các nhiệm vụ nhảy dù hoặc trực thăng vận – sẽ là "mũi chủ lực" trong bất kỳ cuộc xâm lược nào, "được yểm trợ bởi lực lượng không quân và hải quân".
Đánh giá của ông được Justin Crump, một sĩ quan dự bị của Quân đội Anh, người đứng đầu công ty tình báo và rủi ro Sibylline, đồng tình.
"Mỹ có sức mạnh hải quân áp đảo và có khả năng vận chuyển một số lượng lớn quân lính," ông nói. "Chỉ trong một đợt điều quân duy nhất, họ có thể dễ dàng huy động lượng binh sĩ đủ để tạo ra tỷ lệ áp đảo so với dân cư bản địa."
Ông Crump nói thêm rằng phương án này sẽ rất tàn nhẫn, nhưng cũng có thể không đổ máu vì ít có khả năng gặp phải kháng cự.
Tuy nhiên, tại Mỹ, một số cựu quan chức và nhà phân tích quốc phòng cho rằng một chiến dịch quân sự là cực kỳ khó xảy ra, do những hệ lụy sâu rộng của nó đối với các liên minh Mỹ-châu Âu.
"Điều đó rõ ràng sẽ đi ngược lại tất cả luật pháp quốc tế," Mick Mulroy, một cựu lính thủy đánh bộ, sĩ quan bán quân sự CIA và phó trợ lý bộ trưởng quốc phòng, nói. "Họ vừa không phải là mối đe dọa đối với Mỹ mà còn vừa là đồng minh theo hiệp ước."
Nếu Nhà Trắng bắt đầu hướng tới phương án quân sự, ông Mulroy cho rằng sẽ gặp phải sự phản đối từ các nhà lập pháp, những người có thể sử dụng Đạo luật Thẩm quyền Chiến tranh – được thiết kế để hạn chế khả năng của tổng thống trong việc tiến hành chiến tranh mà không cần sự chấp thuận của Quốc hội – để ngăn chặn.
"Tôi không cho rằng Quốc hội sẽ có bất kỳ sự ủng hộ nào cho việc phá hủy liên minh NATO," ông nói.
Mua lại Greenland
Mỹ có nguồn tài chính dồi dào, nhưng theo cả Nuuk và Copenhagen, Greenland không phải để bán.
Trích dẫn một nghị sĩ và một nguồn tin quen thuộc với các cuộc thảo luận, đài CBS – đối tác tin tức của BBC tại Mỹ – đưa tin rằng Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio đã nói với các thành viên Quốc hội rằng việc mua lại là lựa chọn ưu tiên của chính quyền.
Nhưng ngay cả khi Greenland muốn được bán, một giao dịch như vậy sẽ vô cùng phức tạp.
Bất kỳ khoản tiền nào cũng phải được Quốc hội phê duyệt, và việc mua lại Greenland bằng hiệp ước sẽ cần sự ủng hộ của hai phần ba Thượng viện – điều mà các chuyên gia cho rằng sẽ rất khó đạt được.
Muốn giao dịch thành công thì Liên minh châu Âu cũng phải chấp thuận thỏa thuận này.
Mặc dù về mặt lý thuyết, ông Trump có thể cố gắng đạt được một thỏa thuận đơn phương mà không cần sự tham gia của Greenland hay Quốc hội, thì các chuyên gia tin rằng điều đó cực kỳ khó xảy ra.
Giáo sư Monica Hakimi, một chuyên gia luật quốc tế tại Đại học Columbia, bình luận rằng "người ta có thể hình dung ra một tình huống" trong đó Đan Mạch, Mỹ và Greenland đồng ý với các điều khoản về việc chuyển giao lãnh thổ.
"[Nhưng] để hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế, một hiệp ước như vậy có lẽ cũng phải có sự tham gia của Greenland với quyền tự quyết của họ," bà nói thêm.
Hiện chưa rõ việc mua hòn đảo này sẽ tốn bao nhiêu tiền. Điều này có thể làm phức tạp thêm mọi việc đối với ông Trump, người đã tranh cử trên cương lĩnh "Nước Mỹ trên hết".
Viễn cảnh hàng tỷ hoặc thậm chí hàng ngàn tỷ đô la tiền thuế của người dân Mỹ được chi cho một hòn đảo phủ đầy băng có thể gây phản ứng dữ dội từ những người ủng hộ phong trào "Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại" (MAGA) của ông.
Tuy nhiên, ông Crump tin rằng việc không mua được hòn đảo này có thể khiến phương án quân sự trở nên hấp dẫn hơn đối với ông Trump – đặc biệt là khi chính quyền của ông có thể trở nên tự tin hơn nhờ chiến dịch bắt giữ Nicolás Maduro ở Venezuela gần đây đã thành công.
"Ông ấy sẽ nói, 'chúng ta cứ thế mà lấy thôi'."
Ngoại trưởng Rubio, người sẽ gặp các quan chức Đan Mạch vào tuần tới để thảo luận về Greenland, đã nói rằng ông Trump "không phải là tổng thống Mỹ đầu tiên xem xét hoặc tìm cách để có thể mua lại" vùng lãnh thổ này.
Ông đã nhắc đến cựu Tổng thống Harry Truman, người vào năm 1946 đã đưa ra ý tưởng trả cho Đan Mạch số vàng trị giá 100 triệu đô la để mua Greenland.
Chiến dịch thuyết phục người dân Greenland
Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy đa số người dân Greenland muốn độc lập khỏi Đan Mạch.
Nhưng các cuộc thăm dò cũng chỉ ra rằng họ không muốn trở thành một phần của Mỹ.
Tuy nhiên, Mỹ có thể tăng cường nỗ lực để giành được sự ủng hộ của người dân trên đảo bằng các ưu đãi tài chính ngắn hạn hoặc triển vọng về lợi ích kinh tế trong tương lai.
Hiện tại, các bài viết từ truyền thông Mỹ đã chỉ ra các cơ quan tình báo nước này đã tăng cường giám sát phong trào độc lập của Greenland, nỗ lực xác định những nhân vật sẽ ủng hộ các mục tiêu của chính quyền.
Imran Bayoumi, một chuyên gia về địa chiến lược tại Hội đồng Đại Tây Dương ở Washington DC và cựu cố vấn chính sách cho Bộ Quốc phòng, nói với BBC rằng một "chiến dịch gây ảnh hưởng" có nhiều khả năng xảy ra hơn bất kỳ hành động quân sự nào.
Ông giải thích rằng chiến dịch này có thể giúp thúc đẩy Greenland hướng tới độc lập.
"Sau khi Greenland tuyên bố độc lập, chính phủ Mỹ có thể trở thành đối tác," ông nói. "Chi phí của hành động quân sự là quá cao."
Những kiểu hợp tác này không phải là chưa từng có tiền lệ.
Ví dụ, Mỹ đã đạt được một thỏa thuận tương tự với các quốc gia Thái Bình Dương là Palau, Micronesia và Quần đảo Marshall – tất cả đều là các quốc gia độc lập cho phép Mỹ tiếp cận các quyền quốc phòng.
Đổi lại, công dân của ba quốc gia này có cơ hội sống và làm việc tại Mỹ.
Nhưng điều này có thể không làm hài lòng Trump, người đã có quyền đưa bao nhiêu quân tùy thích đến Greenland theo các thỏa thuận hiện có.
Và một thỏa thuận như vậy sẽ không mang lại cho Mỹ quyền sở hữu đối với trữ lượng khoáng sản khổng lồ của Greenland nằm sâu dưới lớp băng Bắc Cực.
Ông Hansen, nhà phân tích người Đan Mạch, lập luận rằng bất kỳ chiến dịch nào nhằm "sở hữu" Greenland – ngoại trừ hành động quân sự – đều sẽ không thành công chừng nào người dân Greenland còn phản đối ý tưởng đó.
Hiện tại, không có đảng phái chính trị nào trên đảo đang vận động để trở thành một phần của Mỹ.
"Có nhiều khả năng Greenland sẽ lại trở thành thành viên của Liên minh châu Âu," ông nói.
"Hơn thế, chính quyền Mỹ hiện tại chỉ còn ba năm nữa thôi, còn người dân Greenland có lẽ có tầm nhìn đến 1.000 năm."
Nguồn: Công Luận; CafeF; Tin Nhanh Chứng Khoán; Soha; BBC
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá