- Văn nghệ
.png)
(Gió lay nhè nhẹ bên thêm
Mưa rơi ướt cả môi mềm em tôi)
Liệu giờ này ai đó có nhớ tôi
Chiếc lá khô nổi trôi chiều tháng bẩy
Sông Ngân Hà nhịp cầu Ô run rẩy
Sóng xô bờ hờn lẫy sợ biển đau.
Có phải rằng ta đã lạc mất nhau
Trầu úa lá thương hàng Cau vàng trái
Bến sông quê con đò chiều khắc khoải
Bụi Cải ngồng tê tái ngóng người xa.
Hay là vì ta đã trót quên ta
Lời hẹn ước mãi chỉ là hẹn ước
Ai đếm đong ai so đo mất được
Để thu vàng đánh cược với hạ xanh.
Liệu giờ này em có nhớ đến anh
Sóng đẩy xô chòng chành bờ cát trắng
Ly cà phê uống một tôi chát đắng
Từng giọt buồn lẳng lặng khẽ khàng rơi.
Lá khô vàng theo gió cuốn chơi vơi
Cơn mưa muộn.....
Rã rời......
Gieo rắc nhớ !
Nguồn: Hồng Giang
.png)
Xưa, hai vợ chồng nọ
Có ba người con trai.
Do giỏi nghề buôn bán,
Nên phát lộc, phát tài.
Họ chắt chiu, làm lụng
Hỏi vợ cho các con.
Xây nhà riêng cho chúng
Mà tiền bạc vẫn còn.
Ông chồng bảo bà vợ:
“Tuổi gần đất xa trời,
Chia nốt cho chúng nó.
Tôi thanh thản nghỉ ngơi”.
Họ chia hết tiền bạc
Cho các con, tuy nhiên,
Không nghỉ, vẫn buôn bán,
Lại kiếm được nhiều tiền.
Ba người con của họ
Không chí thú làm ăn,
Tiền bạc của bố mẹ
Cứ ngày một cạn dần.
Khi không còn gì nữa,
Họ nói với hai người:
“Già rồi, giờ là lúc
Bố mẹ nên nghỉ ngơi.
Chúng con sẽ phụng dưỡng
Tận tâm và tận tình
Đến khi bố mẹ chết.
Còn tiền bạc của tôi
Đưa chúng con quản lý,
Kinh doanh như mọi người”.
Ông bố nghe, chỉ hứa
Ba tháng nữa trả lời.
Nhà ông có vườn quả
Với nhiều tổ chim non.
Ông nhờ một đứa trẻ
Bẫy bắt được bốn con.
Hai chim non mới nở
Ông cho nhốt trong lồng.
Còn hai con bố mẹ
Thả, cho bay lên không.
Hàng ngày chim bố mẹ
Tha mồi nuôi chim con.
Chăm chỉ và đều đặn
Đến khi chúng lớn khôn.
Bấy giờ ông thả chúng
Lên bầu trời mênh mông.
Còn đôi chim bố mẹ
Lại bắt nhốt trong lồng.
Đôi chim con, thật tiếc,
Được phóng thích, bay luôn.
Không một lần quay lại,
Quên bổn phận làm con.
Ông đem câu chuyện ấy
Nói với bà vợ già.
Bà không nghe, nằng nặc
Bắt nghe con, thế là
Khi đến hẹn ba tháng,
Nhà có bao nhiêu vàng
Ông chia cho con hết,
Thảnh thơi và nhẹ nhàng.
Năm đầu, còn tiền bạc,
Ông bà được các con
Chăm sóc rất chu đáo,
Đủ vật lạ, miếng ngon.
Nhưng sự chu đáo ấy
Cứ giảm dần, tiếc thay,
Theo số tiền họ có.
Giảm từng tháng, từng ngày.
Cuối cùng, tiền bạc hết,
Anh em đùn đẩy nhau.
Luôn so đo hơn thiệt
Từng bát gạo, mớ rau.
Mỗi người nuôi một tháng,
Thụng mặt và chau mày.
Rồi cãi nhau ỏm tỏi
Vì tính gian số ngày.
Thậm chí ba cô vợ
Của ba người con trai
Lườm nguýt như muốn trách
Sao các cụ sống dai...
Chứng kiến những cảnh ấy,
Đau như xát trong lòng,
Không chịu nổi, họ chết,
Cụ bà và cụ ông.
Nên đời sau mới nói,
Rằng cha mẹ nuôi con
Như bể hồ lai láng,
Như dào dạt sóng dồn.
Còn con cái nuôi mẹ
Thì tính tháng kể ngày.
Đây cũng là bài học
Cho bố mẹ ngày nay.
Nguồn: FB Thái Bá Tân
.png)
Nhiều bậc phụ huynh có điều kiện tại Việt Nam ngày nay lựa chọn nước Đức làm điểm đến du học cho con cái. Đằng sau quyết định ấy, thoạt nhìn tưởng chừng như một sự đầu tư đơn thuần về mặt học vấn hay một tấm vé để con trẻ trải nghiệm cuộc sống văn minh trời Âu. Thế nhưng, nếu nhìn sâu vào thực tế, ẩn chứa trong đó lại là một dụng ý giáo dục vô cùng thực tế và có phần phũ phàng: đưa con ra biển lớn để cuộc đời tự dạy cho chúng những bài học mà vòng tay cha mẹ không thể nào làm được.
Chúng ta phải thừa nhận một thực trạng rằng, có một bộ phận không nhỏ người trẻ lớn lên trong điều kiện vật chất quá đỗi dư dả. Tại quê nhà, chúng được nuôi dưỡng trong môi trường vô trùng của sự bao bọc: muốn gì có đó, tiền tiêu không phải bận tâm, mọi bước đi đều có gia đình đứng sau dọn đường, che chắn. Việc sống quá lâu trong „chiếc lồng son“ ấy dễ dàng hình thành nên một thế hệ mang tâm lý dựa dẫm, thích hưởng thụ, ngộ nhận về năng lực của bản thân và xem nhẹ giá trị của sự lao động. Khi mọi thứ đến quá dễ dàng, người ta thường quên mất cách trân trọng. Chính vì lẽ đó, nhiều gia đình giàu có đã quyết định đẩy con tôi ra khỏi vùng an toàn. Họ chọn nước Đức không chỉ vì một nền giáo dục ưu việt, mà quan trọng hơn, họ muốn con tôi được va chạm với mặt mộc của cuộc sống.
Nước Đức không phải là một sân chơi để hưởng thụ, mà là một thao trường của sự tự lập. Đặt chân đến nơi xứ người, điều đầu tiên những „cậu ấm, cô chiêu“ phải đối mặt chính là sự bình đẳng đến mức lạnh lùng của xã hội. Sẽ chẳng có ai bận tâm bạn xuất thân từ một gia đình trâm anh thế phiệt nào ở Việt Nam, cũng không ai dung túng hay chiều chuộng cho thói quen sinh hoạt vô kỷ luật. Muốn tồn tại, họ buộc phải học cách tự sinh tồn.
Sự khắc nghiệt ấy hiện hữu trong từng tiểu tiết của đời sống thường nhật: là việc tự quản lý việc học, tự đi xin việc làm thêm, tự tính toán để trả tiền thuê nhà mỗi tháng. Đó là những buổi sáng mùa đông âm độ, tuyết rơi buốt giá, bản thân vẫn phải tự gồng tôi thức dậy đúng giờ để bắt kịp chuyến tàu điện, bởi ở nơi đó, sự chậm trễ đồng nghĩa với việc bị đào thải. Không còn những bữa cơm dọn sẵn, không còn sự nâng giấc ủi an; đối diện với ốm đau hay áp lực, họ chỉ có thể tự tôi vượt qua. Chính sự cô độc và kỷ luật thép ấy đã ép những đứa trẻ phải lớn lên.
Và rồi, thời gian ở Đức đã chứng minh một chân lý giáo dục sâu sắc: đôi khi, thứ cứu rỗi và rèn giũa một người trẻ không phải là những lời khuyên răn giáo điều, mà chính là những cú va chạm nảy lửa với cuộc đời. Rất nhiều thanh niên trước khi xuất ngoại chỉ quen thói tiêu tiền vô tư, nhưng sau vài năm lăn lộn, họ đã có một cuộc „lột xác“ ngoạn mục. Những giọt mồ hôi rơi xuống nơi đất khách đã dạy họ biết quý trọng từng đồng tiền nhọc nhằn kiếm được. Nỗi cô đơn thẳm sâu dạy họ biết trân quý mái ấm gia đình, biết thương xót cho những nếp nhăn và sự hy sinh thầm lặng của mẹ cha. Họ bừng tỉnh và nhận ra rằng, thế giới ngoài kia vốn dĩ không hề dễ dàng và màu hồng như lăng kính họ từng mang.
Trong hành trình làm người, điều đáng sợ nhất không phải là con trẻ từng mắc sai lầm hay vấp ngã. Bi kịch thực sự là khi một người đã mang hình hài của một kẻ trưởng thành, nhưng bên trong vẫn là một tâm hồn ấu trĩ, mãi mãi không học được cách tự chịu trách nhiệm với cuộc đời tôi.
Sự tự lập và môi trường sống kỷ luật tại nước Đức, hay bất kỳ một mảnh đất xa lạ nào khác, chính là ngọn lửa thử vàng. Có thể những bài học từ sự khắc nghiệt ấy rất cay đắng, nhưng nó là hành trang vô giá và bắt buộc để một người trẻ thực sự đứng vững trên đôi chân của chính tôi. Sự tàn nhẫn đúng lúc của cuộc đời, suy cho cùng, lại là nền tảng vững chắc nhất cho một tương lai đích thực.
CÒN TIẾP
Nguồn: FB Lê Ngọc Linh
Thơ và âm nhạc với tiếng đàn Đặng Ngọc Long; Thế giới lược sử: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ; Sống ở Đức nhiều năm, tôi mới hiểu vì sao đàn ông luôn là người được nghĩ đến sau cùng
Không chờ Godot – IV Vẫn còn một mái nhà đang chờ đợi; Tản mạn về gia đình; người Đức giàu thế, sao họ tiết kiệm đến mức khiến người khác ngỡ ngàng?
Cho mượn cả tình anh; Thế giới lược sử: Cộng hòa Liên bang Đức; Ở Đức: Đi làm hãng hay tự hành nghề? Ánh hào quang và cái giá ít ai dám nói
Cân sức; Đợi anh giữa mùa Đông khói lửa; Trạng Quỳnh đón sứ Tàu
Bóc trần nghề Điều dưỡng ở Đức: Áp lực thật sự nằm ở đâu? Định luật Festinger; Chút lãng mạn với… Huế thương
Vì sao trong mắt em; Sở Trang Vương; Đã khuất xa rồi
Cưỡi ngựa dạo quanh; Phụ nữ muốn gì?; Đời người như mộng, vậy ta đang sống cho mình hay cho người khác
Giếng xưa vẫn đợi; Nuôi gà chọi; Già với chữ: Nhẫn
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá