EU: Sản xuất hydro carbon thấp; Kinh tế 'hạ cánh mềm'; Rạn nứt với Israel; Anh-TQ căng thẳng; Tỷ phú Na Uy chật vật vì thuế

THÁCH THỨC LỚN VỚI CHÂU ÂU TRONG SẢN XUẤT HYDRO CARBON THẤP

Việc giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch của Nga đang thúc đẩy EU tìm kiếm các nguồn hydro có hàm lượng carbon thấp, với vai trò tiềm năng là hạt nhân.

Quá trình chuyển đổi năng lượng ở châu Âu đang tăng tốc với các mục tiêu đầy tham vọng về hydro có hàm lượng carbon thấp. Kế hoạch REPowerEU, được thông qua vào tháng 5/2022, ban đầu đặt mục tiêu sản xuất trong nước là 10 triệu tấn hydro được bổ sung từ 6 đến 10 triệu tấn nhập khẩu vào năm 2030. Tuy nhiên, các mục tiêu đã giảm xuống còn 3 triệu tấn, phù hợp với những dự báo thực tế về khai thác năng lượng tái tạo trong nước. Mức giảm này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đa dạng hóa nguồn sản xuất hydro.

Giới hạn của hydro tái tạo

Sản xuất hydro từ các nguồn năng lượng tái tạo đặt ra những thách thức về hậu cần và kinh tế. Tổn thất về vận tải và năng lượng liên quan đến nhập khẩu, đặc biệt là từ các quốc gia ở Nam bán cầu, đặt ra câu hỏi về chủ quyền năng lượng của châu Âu. Ngoài ra, những hoạt động nhập khẩu này có nguy cơ thúc đẩy khai thác các khu vực đang thiếu năng lượng, tạo ra sự phụ thuộc không mong muốn.

Vai trò của năng lượng hạt nhân trong sản xuất hydro

Trong báo cáo gần đây của mình, Nucleareurope nhấn mạnh rằng năng lượng hạt nhân có thể lấp đầy khoảng trống còn lại bằng cách cắt giảm các mục tiêu sản xuất hydro tái tạo. Ưu điểm chính của hydro được sản xuất bởi các nhà máy điện hạt nhân là khả năng tối đa hóa hệ số tải của các máy điện phân được lắp đặt, đạt 8000 giờ mỗi năm. Điều này sẽ cho phép quá trình sản xuất hydro có hàm lượng carbon thấp được diễn ra liên tục và ổn định, từ đó tăng doanh thu và tuổi thọ của hệ thống lắp đặt.

Ưu điểm và cơ hội của điện hạt nhân

Một lò phản ứng hạt nhân 1000MWe, với hệ số công suất trên 90%, có thể sản xuất khoảng 0,16 triệu tấn hydro carbon thấp mỗi năm, cung cấp nguồn cung liên tục cho người tiêu dùng. Hiệu suất này có thể tăng thêm 20% với máy điện phân nhiệt độ cao sử dụng hơi nước hạt nhân.

Đa dạng hóa để có chủ quyền năng lượng tốt hơn

Để hỗ trợ sản xuất hydro trong nước, Nucleareurope khuyến nghị một cách tiếp cận đa dạng nhằm thừa nhận tiềm năng của tất cả loại hình công nghệ không phát thải. Tập trung vào chủ quyền năng lượng, xây dựng các chính sách thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp hydro trong nước và đầu tư chiến lược vào cơ sở hạ tầng là những bước đi cần thiết. Ngoài ra, các nguồn lực phải được phân bổ cho nghiên cứu và phát triển để nâng cao hiệu quả và tiết kiệm chi phí của các công nghệ sản xuất hydro, bao gồm cả các phương pháp dựa trên hạt nhân.

Các vấn đề kinh tế và công nghiệp

Sản xuất hydro trong nước có thể giải quyết một số thách thức của EU về an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường và khả năng cạnh tranh kinh tế. Yves Desbazeille, Tổng Giám đốc của Nucleareurope, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định lại vai trò của hydro như một vectơ năng lượng sạch và linh hoạt để chuyển đổi hệ thống năng lượng. Điều này bao gồm tái công nghiệp hóa và tạo việc làm, từ đó củng cố nền kinh tế châu Âu. Việc tích hợp hydro do năng lượng hạt nhân sản xuất vào hỗn hợp năng lượng của châu Âu có thể là một giải pháp chiến lược để đạt được mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050. Bằng cách đa dạng hóa các nguồn sản xuất hydro, châu Âu có thể tăng cường chủ quyền năng lượng của mình đồng thời thúc đẩy các công nghệ sạch và bền vững. Báo cáo của Nucleareurope nhấn mạnh rằng sự kết hợp giữa sản xuất hydro hạt nhân và tái tạo là rất quan trọng để chuyển đổi năng lượng thành công.

TRIỂN VỌNG KINH TẾ HẠ CÁNH MỀM NGÀY CÀNG TĂNG

Các chỉ số gần đây cho thấy triển vọng kinh tế của khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) đang trên đà “hạ cánh mềm”.

Kinh tế Eurozone khởi sắc được kỳ vọng sẽ góp phần mang lại triển vọng tích cực cho hoạt động xuất khẩu của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Thoát suy thoái

Sau khi rơi vào trạng thái suy thoái nhẹ giai đoạn cuối năm 2023, hàng loạt nền kinh tế của Eurozone có dấu hiệu phục hồi trở lại trong quý I/2024. Mức tăng trưởng cả quý 1/2024 là 0,3% tại EU cũng như Eurozone tuy khá khiêm tốn, nhưng có ý nghĩa bước ngoặt đánh dấu sự kết thúc một thời kỳ trì trệ, luôn mấp mé “bờ vực” suy thoái.

Trong khi đó, lạm phát tại khu vực Eurzone vẫn ổn định trong tháng 4 ở mức 2,4% so với cùng kỳ năm ngoái, phù hợp với kỳ vọng và gần với mục tiêu 2% của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB).

Đặc biệt, một tín hiệu khả quan khác là tiền lương tại Eurozone tăng lên. Điều này giúp khả năng mua sắm thực tế mạnh lên, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Trước bối cảnh tích cực của kinh tế Eurozone, giới chuyên gia dự báo ECB sẽ cắt giảm lãi suất vào tháng 6/2024. Do đó, kịch bản “hạ cánh mềm” có thể sẽ trong tầm tay của Eurozone.

Động lực tạo ra tăng trưởng kinh tế của Eurozone đến từ nguyên nhân bền vững: Sức bật của tiêu dùng tư nhân được hỗ trợ bởi lạm phát giảm, sức mua phục hồi và sự tăng trưởng trên thị trường việc làm. Đây cũng là điểm tựa cho kinh tế “lục địa già” trong giai đoạn tới.

Theo dự báo kinh tế mùa xuân, tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của EU sẽ đạt 1% ở năm 2024. Cùng kỳ, mức tăng trưởng này tại Eurozone được kỳ vọng đạt 0,8%. Trong năm 2025, nền kinh tế EU dự báo sẽ tăng trưởng 1,6%, trong khi dự báo đối với Eurozone là 1,4%.

Tạo đà cho xuất khẩu Việt Nam

Châu Âu là thị trường ngày càng quan trọng đối với hàng hóa Việt Nam. EU đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ 5, thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam, trong khi Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của EU trong khối ASEAN.

Trong 2 năm vừa qua, khi kinh tế EU chững lại, đã tác động trực tiếp đến nhiều doanh nghiêp xuất khẩu tại Việt Nam, nhất là ngành may mặc, giày da, gỗ công nghiệp,… bị thiếu đơn hàng. Tuy nhiên, khi kinh tế châu Âu khởi sắc trở lại, thì xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực này cũng đã có nhiều tín hiệu tích cực.

Cụ thể, trong quý 1/2024, xuất khẩu của Việt Nam sang Tây Ban Nha tăng 37,6%; xuất khẩu sang Anh tăng 35,5%; xuất khẩu sang Italy tăng 27,6%; xuất khẩu sang Hà Lan tăng 24,6%,… Xuất khẩu của Việt Nam sang toàn khu vực EU tăng 17,2%.

Ngành hàng rau, củ, quả cũng đứng trước cơ hội lớn. Hàng năm, thị trường châu Âu chi khoảng 60 tỷ USD nhập khẩu nông sản. Trong khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam hiện chỉ chiếm khoảng 300 triệu USD, như vậy tiềm năng thị trường còn rất lớn.

Theo cam kết từ EVFTA, EU dành cho Việt Nam hạn ngạch 80.000 tấn gạo mỗi năm. Đặc biệt, EU sẽ tự do hóa hoàn toàn đối với gạo tấm, giúp Việt Nam có thể xuất khẩu ước khoảng 100.000 tấn vào EU mỗi năm…

Tuy nhiên, xuất khẩu sang EU cũng sẽ gặp không ít thách thức do khu vực này siết chặt quy định nhập khẩu hàng hóa. EC vừa ban hành Quy định mới áp dụng mức dư lượng oxamyl tối đa trên các loại nông sản ở mức rất thấp, chỉ 0,001 mg/kg.

Bên cạnh đó, EU cũng đã thông báo đưa 5 mặt hàng nông sản, thực phẩm của Việt Nam vào diện kiểm soát khi xuất khẩu vào thị trường này, trong đó lần đầu tiên sầu riêng nằm trong danh sách các mặt hàng bị giám sát tại cửa khẩu của EU với tần suất 10%.

Trong lĩnh vực dệt may, châu Âu đã công bố Thỏa thuận xanh với mục tiêu năm 2030 và tầm nhìn 2050 với rất nhiều yêu cầu khắt khe hơn về nguyên vật liệu tái chế, tuổi thọ sản phẩm. Trong năm nay, EU sẽ có quy chuẩn mới “Ecodesign” áp dụng riêng cho ngành dệt may.

Trước thực trạng trên, nhiều chuyên gia cho rằng các doanh nghiệp cần tập trung phát triển nguồn nguyên phụ liệu trong nước nhưng theo xu thế xanh và tuần hoàn, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe hơn về xác định nguồn gốc xuất xứ, cũng như các sắc thuế bổ sung có thể áp dụng trong thời gian tới như cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của châu Âu (CBAM)…

Nếu vượt qua những thách thức nói trên, Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra con số thương mại vượt trội hơn với EU, nhất là khi Trung Quốc không còn là đối tác thương mại lớn nhất của khối này.

CHÂU ÂU – ISRAEL RẠN NỨT NGÀY CÀNG SÂU SẮC

Hôm 22/5, ba quốc gia châu Âu gồm Tây Ban Nha, Ireland và Norway cho biết, sau nhiều tuần thảo luận kỹ lưỡng, họ sẽ chính thức công nhận Nhà nước Palestine vào ngày 28/5 tới.

Nếu nhiều nước láng giềng theo chân ba nước trên, Liên minh châu Âu (EU) có thể trở thành một đối trọng lớn đối với lập trường của Mỹ rằng, tư cách nhà nước của Palestine chỉ có thể là kết quả của một thỏa thuận thương lượng với Israel. Điều đó sẽ làm sâu sắc thêm sự rạn nứt giữa châu Âu và Israel.

Trong một tuyên bố, Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sánchez cáo buộc người đồng cấp Israel Benjamin Netanyahu đã thực hiện vụ “thảm sát” ở Gaza và gây nguy hiểm cho giải pháp hai nhà nước. Ông nói: “Chúng tôi phải sử dụng tất cả các nguồn lực chính trị sẵn có để tuyên bố rõ ràng rằng chúng tôi sẽ không cho phép giải pháp hai Nhà nước bị phá hủy bằng vũ lực, bởi đó là giải pháp công bằng và bền vững duy nhất cho cuộc xung đột khủng khiếp này”. Trong khi đó, Thủ tướng Norway Jonas Gahr Støre nhấn mạnh sự cần thiết phải công nhận Nhà nước Palestine để ủng hộ những tiếng nói ôn hòa trong cuộc xung đột ở Gaza. Ông nói: “Giữa một cuộc chiến có hàng chục nghìn người thiệt mạng và bị thương, chúng ta nên duy trì lựa chọn thay thế duy nhất mang lại giải pháp chính trị cho cả người Israel và người Palestine: hai quốc gia, sống cạnh nhau, trong hòa bình và an ninh”. Về phần mình, Thủ tướng Ireland Simon Harris bày tỏ kỳ vọng các quốc gia khác sẽ cùng Ireland, Tây Ban Nha và Norway công nhận Nhà nước Palestine trong những tuần tới. Ông khẳng định Ireland dứt khoát công nhận Israel và quyền tồn tại “an toàn và hòa bình với các nước láng giềng” của nước này, đồng thời kêu gọi trả tự do cho tất cả các con tin ở Gaza ngay lập tức.

Cho tới nay, đã có 8 quốc gia thành viên của EU gồm Slovakia, Bulgaria, Cộng hòa Cyprus, Cộng hòa Czech, Hungary, Ba Lan, Romania và Thụy Điển công nhận Nhà nước Palestine. Trong đó, Thụy Điển là quốc gia EU đầu tiên công nhận Nhà nước Palestine vào tháng 10/2014. Vương quốc Anh cũng cho biết họ có thể xem xét công nhận Nhà nước Palestine trong bối cảnh thất vọng ngày càng sâu sắc về việc Israel từ chối tiến tới giải pháp hai Nhà nước, đặc biệt trong thời kỳ ông Benjamin Netanyahu. Sự chú ý hiện nay đang hướng về Đức, bởi một sự thay đổi lập trường của Berlin sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hướng đi trong quan hệ giữa EU với Israel. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Đức nhấn mạnh ủng hộ giải pháp hai Nhà nước, nêu rõ một nhà nước Palestine độc lập vẫn là mục tiêu vững chắc trong chính sách đối ngoại của Berlin đồng thời cho rằng cần có một quá trình đối thoại để đạt được mục tiêu đó. Ông Hugh Lovatt, chuyên gia về quan hệ Israel - Palestine tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại châu Âu, nhận định: “Việc công nhận Nhà nước Palestine là một bước đi hữu hình hướng tới con đường chính trị khả thi mang lại quyền tự quyết cho người dân Palestine. Đây là điều kiện tiên quyết để đảm bảo sự tham gia của Arab trong việc hỗ trợ lệnh ngừng bắn bền vững ở Gaza. Theo kế hoạch “Tầm nhìn Arab” nhằm thực thi giải pháp hai Nhà nước, các quốc gia như Saudi Arabia đã kêu gọi Mỹ và châu Âu công nhận Palestine”.

Động thái mới nhất của 3 quốc gia châu Âu diễn ra ngay sau khi Toà án Hình sự quốc tế (ICC) yêu cầu lệnh bắt giữ Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu và Bộ trưởng Quốc phòng Yoav Gallant vì tội ác chiến tranh. Israel cũng đang bị điều tra vì cáo buộc diệt chủng tại Tòa án Công lý quốc tế (ICJ). Đối với quyết định này của ICJ, hầu hết các nước châu Âu và EU đã không đưa ra quan điểm công khai mà nói rằng họ tôn trọng sự độc lập của tòa án. Thủ tướng Cộng hòa Czech Petr Fiala cho rằng, việc tìm cách bắt giữ “các đại diện của một chính phủ được bầu cử dân chủ cùng với các thủ lĩnh của một tổ chức khủng bố Hồi giáo là điều kinh khủng và hoàn toàn không thể chấp nhận được”. Trong khi đó, Thủ tướng Viktor Orban của Hungary gọi đó là điều “vô lý và đáng xấu hổ”. Tuy nhiên, Ngoại trưởng Bỉ Hadja Lahbib lại nói rằng: “Những tội ác xảy ra ở Gaza phải bị truy tố ở mức cao nhất, bất kể thủ phạm là ai”. Bộ Ngoại giao Pháp, quốc gia lớn thứ hai trong khối, cho biết: “Pháp ủng hộ ICJ, sự độc lập của tổ chức này và cuộc chiến chống lại sự miễn tội trong mọi tình huống”.

Theo giới chuyên gia, quyết định của Ireland, Tây Ban Nha và Norway về công nhận Nhà nước Palestine chủ yếu phản ánh tình hình chính trị trong nước của các quốc gia này. Quyết định trên là đáng chú ý và sẽ có tác động ngoại giao, có thể gây áp lực lên các đồng minh để có lập trường cứng rắn hơn trong cuộc xung đột Israel - Hamas. Tuy nhiên, cũng có thể nói rằng, cho đến nay, không có áp lực nào, ngay cả từ Mỹ, có tác động lớn đến Thủ tướng Benjamin Netanyahu. Sau tuyên bố của ba nước châu Âu trên, Israel đã đáp trả bằng cách triệu hồi ngay lập tức các đại sứ tại 3 quốc gia nói trên để “tham vấn khẩn cấp” và cảnh báo về “những hậu quả nghiêm trọng” hơn nữa. Tel Aviv nhấn mạnh hành động của ba nước quốc gia châu Âu là “có lợi cho chủ nghĩa khủng bố” sau khi lực lượng Hamas của người Palestine tiến hành cuộc tấn công vào khu vực do Israel kiểm soát vào tháng 10 năm ngoái. Ngoại trưởng Israel Katz cáo buộc động thái của 3 nước châu Âu là “bước đi lệch lạc” và là “sự bất công đối với các nạn nhân vụ tấn công ngày 7/10”. Bộ Ngoại giao Israel cho biết họ cũng sẽ triệu tập các Đại sứ Ireland, Tây Ban Nha và Norway để bày tỏ quan điểm phản đối động thái của 3 quốc gia.

Quyết định công nhận Nhà nước Palestine có thể hữu ích và có ý nghĩa thực tế trong sự nghiệp của người Palestine về lâu dài. Tuy nhiên, ở châu Âu, phần lớn quốc gia vẫn không muốn đi xa hơn trong vấn đề liên quan Israel và Palestine. Ở Ireland, Tây Ban Nha và Norway, sự ủng hộ dành cho Nhà nước Palestine có tác động tới cử tri nói chung và không bị phản đối về mặt chính trị. Tuy nhiên, ở các quốc gia châu Âu khác thì không như vậy. Mặc dù ủng hộ giải pháp hai Nhà nước chung sống hòa bình về lâu dài, nhưng Đức vẫn nhất quán ủng hộ Israel. Hungary, Ba Lan, Anh và các nước khác cũng có quan điểm tương tự. Do đó, tác động chính sau khi ba quốc gia kể trên công nhận Nhà nước Palestine nằm ở vấn đề hỗ trợ quân sự. Chính phủ Anh đang chịu áp lực phải xem xét vấn đề pháp lý khi bán vũ khí cho Israel, để xem việc này có vi phạm luật pháp quốc tế hay không. Nhưng áp lực này cũng phần lớn là những vấn đề trong nước ở Anh.

Các nhà phân tích cũng cho rằng, việc công nhận Nhà nước Palestine có thể là “con dao hai lưỡi” đối với chính quyền Palestine của Tổng thống Mahmoud Abbas. Nhà lãnh đạo này đã không tổ chức các cuộc bầu cử lập pháp kể từ năm 2006. Mọi kỳ vọng cho rằng sự công nhận mới nhất sẽ thay đổi tình hình khốn khó ở Bờ Tây, nơi các cuộc tấn công của lực lượng an ninh và người định cư Israel ngày càng leo thang, dường như là quá sớm. Tuy nhiên, sự công nhận quyền tự quyết của người Palestine cũng có thể hồi sinh xã hội dân sự Palestine vốn đã bị bóp nghẹt trong gần 2 thập niên. Có lẽ điều quan trọng nhất đối với người Palestine là điều gì đó cụ thể hơn: sự chấp nhận quyền tự quyết rõ ràng và cơ bản mà không cần sự cho phép của Israel. Còn đối với Israel, cựu Thủ tướng nước này Ehud Barak từng tuyên bố, Israel có nguy cơ gây ra một “cơn sóng thần” ngoại giao vì chính các chính sách của Tel Aviv. Trong những tuần gần đây, cơn sóng thần đó đã bắt đầu ập xuống chính quyền của Thủ tướng Benjamin Netanyahu.

CĂNG THẲNG ANH -TRUNG QUỐC VÌ XUNG ĐỘT Ở UKRAINE

Phát ngôn viên của đại sứ quán Trung Quốc tại Anh kêu gọi London ngừng đưa ra các cáo buộc vô căn cứ chống Bắc Kinh và ngừng "đổ thêm dầu vào lửa" với cuộc xung đột Nga – Ukraine.

Theo Reuters, phản ứng gay gắt của phía Trung Quốc hôm 24/5 nhằm đáp trả phát biểu 2 ngày trước đó của Bộ trưởng Quốc phòng Anh Grant Shapps. Tại một cuộc họp báo ở London hôm 22/5, ông Shapps cáo buộc Bắc Kinh đang hoặc chuẩn bị cung cấp cho Nga các vũ khí sát thương có thể dùng trong chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine.

Bộ trưởng Quốc phòng Anh nói, các cơ quan tình báo của nước này và Mỹ đã có trong tay bằng chứng về điều đó. Song, ông không công bố bất kỳ bằng chứng nào cho cáo buộc của mình.

Trả lời câu hỏi của phóng viên hôm 24/5, phát ngôn viên của đại sứ quán Trung Quốc tại Anh đã lên án bình luận của ông Shapps.

“Chúng tôi kêu gọi Anh ngừng đưa ra những cáo buộc vô căn cứ đối với Trung Quốc, ngừng đổ thêm dầu vào lửa về vấn đề Ukraine, nghiêm túc suy ngẫm về vai trò của mình đối với hòa bình và an ninh quốc tế, đồng thời thực sự làm điều gì đó cho hòa bình và công lý thế giới”, người phát ngôn nói.

Đại diện cho phái đoàn ngoại giao của Bắc Kinh ở London lưu ý thêm: “Về vấn đề Ukraine, Trung Quốc luôn giữ quan điểm khách quan và công bằng, tích cực thúc đẩy đàm phán hòa bình và thúc đẩy giải pháp chính trị. Liên quan đến việc xuất khẩu các sản phẩm quân sự, Trung Quốc luôn có thái độ thận trọng và có trách nhiệm, đồng thời luôn kiểm soát việc xuất khẩu các mặt hàng có công dụng kép theo luật pháp và quy định”.

Trung Quốc đã tăng cường quan hệ thương mại và quân sự với Nga trong những năm gần đây, trong bối cảnh Mỹ và các đồng minh áp đặt nhiều lệnh trừng phạt và hạn chế đối với cả hai, đặc biệt vì cuộc xung đột ở Ukraine.

Tháng 2/2022, Trung Quốc và Nga đã công bố trở thành "đối tác không giới hạn". Tổng thống Nga Vladimir Putin hôm 16/5 đã đến Trung Quốc trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên của ông sau khi nhậm chức lãnh đạo Điện Kremlin nhiệm kỳ thứ 5 và cũng là chuyến thăm đại lục lần thứ 2 của ông trong vòng 6 tháng qua. Ông Putin khẳng định, chuyến đi nhằm thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện song phương cũng như nhấn mạnh đến quan hệ hữu nghị tốt đẹp chưa từng có giữa Nga – Trung Quốc và sự thân thiết giữa ông với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

HÀNG LOẠT TỶ PHÚ NA UY CHẬT VẬT VÌ THUẾ

Hàng loạt tỷ phú Na Uy quyết định rời khỏi đất nước vì không chịu nổi thuế tài sản, trong khi chính phủ cho rằng họ "vi phạm khế ước xã hội".

Tỷ phú ngành vận tải biển Kjell Inge Rokke, cựu huyền thoại trượt tuyết Bjorn Daehlie và cha của ngôi sao bóng đá Erling Haaland nằm trong số hàng chục người siêu giàu đã rời khỏi Na Uy những năm gần đây.

Họ rời đi vì từ khi chính phủ trung tả lên nắm quyền năm 2021 và tăng thuế tài sản từ 0,85% lên 1% với người giàu, cũng như tăng thuế cổ tức. Những người sở hữu tài sản hơn 1,9 triệu USD sẽ chịu mức thuế 1,1%.

Na Uy, Tây Ban Nha và Thụy Sĩ là ba quốc gia châu Âu đánh thuế tài sản ròng. Na Uy cũng thu thuế đối với các khoản lãi chưa thực nhận. Chủ doanh nghiệp là những người bị ảnh hưởng nặng nhất, bởi họ thường nhận mức lương khiêm tốn dù công ty giá trị cao.

"Nếu lương một triệu USD mà phải trả tới ba triệu USD tiền thuế tài sản, rõ ràng là không ai chịu nổi", Tord Ueland Kolstad, ông trùm bất động sản chuyển tới Lucerne, Thụy Sĩ vào năm 2022, cho hay. "Hệ thống này được thiết kế nhằm thu về nhiều hơn năng lực sản xuất một người tạo ra".

Để nộp khoản thuế tài sản có thể vượt quá thu nhập hàng năm, các doanh nhân thường phải lấy từ cổ tức và điều này ảnh hưởng tới năng lực tái đầu tư của công ty. Khoản cổ tức này của họ cũng phải chịu thuế 37,84%.

"Về cơ bản chỉ có hai lựa chọn: rời Na Uy hoặc bán công ty", Kolstad nói.

Từ năm 2021 tới 2023, hơn 1.000 người giàu nhất Na Uy đã rời đất nước, phần lớn chuyển sang Thụy Sĩ sinh sống. Những người khác chuyển tài sản cho người thừa kế định cư ở nước ngoài vì Na Uy không đánh thuế thừa kế.

Thủ tướng Jonas Gahr Store chỉ trích những người thừa kế định cư ở nước ngoài, lưu ý thuế là thứ phải trả để đảm bảo duy trì hệ thống phúc lợi hào phóng của Na Uy.

"Khi bạn làm giàu ở Na Uy, đưa con cái đi học, hưởng lợi từ hệ thống y tế, lái xe trên đường và gặt hái thành quả từ các nghiên cứu của Na Uy mà không nộp thuế, đó là hành động vi phạm khế ước xã hội", ông phát biểu trước quốc hội.

Chính quyền Na Uy đang tìm cách siết chặt "thuế xuất cảnh". Bắt đầu từ 20/3, những người chuyển ra nước ngoài sinh sống sẽ phải trả loại thuế này trong 12 năm. Mức thuế là 37,84% lợi nhuận thu được ở Na Uy từ cổ phiếu và những nguồn khác, nhưng sắc thuế này tới nay vẫn dễ bị lách hoặc chậm nộp.

"Mục tiêu của luật là lợi nhuận làm ra ở Na Uy phải bị đánh thuế ở Na Uy", Erlend Grimstad, Bộ trưởng Tài chính Na Uy, nói. "Y bác sĩ, giáo viên ở Na Uy phải nộp một phần lớn trong thu nhập cho xã hội dưới dạng thuế. Nếu họ thấy những người giàu nhất có thể trốn tránh khoản phải đóng góp bằng cách rời khỏi đất nước, điều đó sẽ làm suy yếu tính hợp pháp của hệ thống thuế".

Tuy nhiên, những lập luận này không được lòng giới siêu giàu. Christer Dalsboe, chủ một doanh nghiệp, gây xôn xao trên mạng xã hội khi khuyên các doanh nhân không nên khởi nghiệp trong nước.

"Đừng tới Na Uy, chúng tôi sẽ đánh thuế bạn tới khi bạn nghèo rớt. Khi bạn chẳng còn gì, chúng tôi vẫn đánh thêm chút thuế", ông hát khi ngồi cạnh cây đàn piano.

Ở Lucerne, thành phố đông dân nhất Thụy Sĩ, Tord Ueland Kolstad cho hay mỗi tuần nhận được vài cuộc gọi từ những người Na Uy đang cân nhắc chuyển tới Thụy Sĩ. "Dòng người di cư vẫn chưa dừng lại, có lẽ mới chỉ là bắt đầu", ông nói.

Nguồn: Năng Lượng Quốc Tế; Diễn Đàn Kinh Tế; Công An Nhân Dân; Vietnamnet; Vnexpress

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Việt Nam

Người Việt hải ngoại

EU

Thế giới

Lên đầu trang