EU: Phân bổ người tị nạn; Hạn chế NK nông sản Ukraine; Giấc mơ 2 nước Đông Âu; Pháp tăng mua LNG Nga, 'đau đầu' vì Olympic

CHÂU ÂU & KẾ HOẠCH PHÂN BỔ NGƯỜI TỊ NẠN

Hiệp ước châu Âu về Di cư và Tị nạn (EPMA) được Nghị viện châu Âu bỏ phiếu thông qua ngày 10/4 vừa qua. Hiệp ước được cho là sẽ kiểm soát chặt chẽ hơn những người di cư vào Liên minh châu Âu (EU) và đưa ra cơ chế hợp tác giữa các quốc gia thành viên EU liên quan đến việc phân bổ người tị nạn.

Được đề xuất vào ngày 23/9/2020 bởi Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Ursula von der Leyen, EPMA nhằm cải cách triệt để chính sách di cư của châu Âu. Trong cuộc khủng hoảng di cư năm 2015, dòng người di cư ồ ạt (1,8 triệu người trong một năm) đã gây bất ổn nghiêm trọng cho sự hợp tác giữa các quốc gia thành viên. Đó đã là một thất bại của châu Âu trong lĩnh vực tị nạn và nhập cư.

Ngày nay, EU đang phải đối mặt với sự gia tăng mới về số đơn xin tị nạn. Họ đã đạt mức cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng di cư năm 2015, với 1,14 triệu đơn đăng ký vào năm 2023. Cơ quan bảo vệ biên giới và bờ biển châu Âu (FRONTEX) cũng báo cáo rằng năm 2023 chứng kiến sự gia tăng lớn nhất về số lượng người nhập cảnh bất thường vào EU kể từ năm 2016.

EPMA được đề xuất nhằm mục đích cải cách Quy định Dublin trước đây, vốn là tâm điểm của nhiều tranh cãi căng thẳng. Được thông qua vào năm 2013, Quy định Dublin giao quyền kiểm tra đơn xin tị nạn cho quốc gia EU đầu tiên nơi người di cư đến và do đó tập trung phần lớn áp lực di cư lên các quốc gia này. Cuộc khủng hoảng năm 2015 nêu bật sự kém hiệu quả của quá trình này, những điểm yếu của hệ thống tị nạn quốc gia và sự thiếu đoàn kết trong EU; khi các quốc gia đi đầu, chẳng hạn như Hy Lạp, bị quá tải và không thể xử lý đơn xin tị nạn một cách thích hợp.

Kể từ đó, các nước nhập cảnh đầu tiên đã kêu gọi một cơ chế đoàn kết hiệu quả hơn - nhưng không có kết quả. Sau cuộc khủng hoảng di cư 2015, một đề xuất về hạn ngạch và phân bổ người tị nạn bắt buộc đã được đưa ra, nhưng không mang lại hiệu quả như mong muốn. Do đó, một hiệp ước mới đã được đề xuất nhằm khắc phục những khó khăn, bất cập này.

EPMA bao gồm 6 quy định, 3 khuyến nghị và một chỉ thị, được thiết kế nhằm đạt được sự cân bằng giữa kiểm soát biên giới và tình đoàn kết trong việc tiếp nhận người tị nạn trên đất châu Âu.

Hệ thống mới này đã bị phe cực hữu chỉ trích, đặc biệt là đảng Rassemblement National (RN) của Pháp. Tuy nhiên, trái ngược với những gì phe cực hữu lo ngại, việc tái định cư người tị nạn sẽ không bắt buộc. Tất cả các quốc gia thành viên sẽ có nghĩa vụ đóng góp vào cơ chế đoàn kết, tốt nhất là dưới hình thức chấp nhận tái định cư, nhưng các lựa chọn khác đã được đề xuất cho các quốc gia từ chối tiếp nhận người xin tị nạn. Mặt khác, đảng Xanh, cánh tả cấp tiến và một số chính khách đảng Xã hội đã tố cáo điều mà họ coi là “sự ngoại hóa biên giới của chúng ta”, với việc những người nộp đơn sẽ bị đưa trở lại các nước thứ ba “an toàn”. Tuy nhiên, hiệp ước này nhận được sự ủng hộ của 3 khối chính trị chính của châu Âu: đảng Nhân dân châu Âu (EPP), đảng Xã hội và Dân chủ (S&D) và Đổi mới châu Âu.

EPMA nhận được sự thống nhất ủng hộ vào ngày 10/4 sau hơn 3 năm đàm phán. Chủ tịch Ủy ban EU von der Leyen, người đã coi cải cách này là một đặc điểm quan trọng trong nhiệm kỳ của mình, từ lâu đã lo ngại rằng nó sẽ không thành hiện thực trước cuộc bầu cử châu Âu dự kiến diễn ra vào tháng 6/2024.

Sau 2 năm tê liệt chính trị, các cuộc đàm phán đã đạt được tiến bộ đáng kể vào năm 2023. Vào ngày 20/4, Nghị viện châu Âu đã công bố lập trường đàm phán ủng hộ 4 quy định cơ bản, bao gồm biện pháp liên quan đến sàng lọc và văn bản thiết yếu liên quan đến các tình huống khủng hoảng.

2 tháng sau, vào ngày 8/6/2023, các quốc gia thành viên EU đã đạt được thỏa hiệp về 2 dự luật quan trọng, nổi bật là dự luật thiết lập cơ chế đoàn kết bắt buộc mới. Bà von der Leyen thậm chí còn ca ngợi “một thỏa thuận về hiệp ước chưa bao giờ gần đến thế”, trong bài phát biểu thường niên tại EU vào ngày 13/9/2023. Sau đó, bà kêu gọi MEP và 27 quốc gia thành viên EU “hãy chứng tỏ rằng châu Âu có thể quản lý tình trạng di cư một cách hiệu quả và đầy lòng nhân ái. Hãy hoàn thành việc này”. Tuy nhiên, sự chia rẽ sâu sắc vẫn tồn tại giữa các quốc gia thành viên. Ba Lan và Hungary phản đối cả 2 dự luật, trong khi Bulgaria, Lithuania và Slovakia bỏ phiếu trắng. Phần cuối cùng về quản lý khủng hoảng đã bị Đức chặn lại, nhưng sau đó đã đạt được thỏa hiệp vào cuối tháng 9.

Cuối tháng 12/2023, một thỏa thuận mang tính quyết định đã đạt được giữa các tổ chức EU để thông qua 5 phần quan trọng nhất của hiệp ước di cư. Tuy nhiên, thông báo này đã bị chỉ trích nặng nề bởi các tổ chức phi chính phủ, những người đã chỉ ra các biện pháp đi ngược lại các quyền cơ bản của con người.

Giới chuyên gia kêu gọi sự thận trọng về EPMA. Le Coz, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu châu Âu của Viện Chính sách di cư, cho rằng sau khi EPMA được thông qua, điều quan trọng là phải chú ý kỹ đến việc triển khai thực hiện hiệp ước, đặc biệt là về mặt tôn trọng quyền của người xin tị nạn. EPMA vẫn phải được các quốc gia thành viên EU phê chuẩn để có hiệu lực hoàn toàn trong thời gian tới và các chuyên gia dự đoán điều đó có thể xảy ra tương đối nhanh chóng vì đã đạt được thỏa thuận chính trị. Từ đó, các quốc gia sẽ cần tìm ra cách thực sự thực hiện các biện pháp này.

EU ĐẠT THỎA THUẬN HẠN CHẾ NHẬP KHẨU NÔNG SẢN TỪ UKRAINE

EU vừa đạt được thỏa thuận nội khối về hạn chế nhập khẩu nông sản từ Ukraine. Trong đó, Pháp và Ba Lan đã không đạt được các biện pháp quyết liệt hơn như mong đợi.

Trong bối cảnh các cuộc bầu cử ở châu Âu đang đến gần (từ ngày 6-9/6), trong thời gian ngắn kỷ lục, các nước trong Liên minh châu Âu (EU) đã quyết định nới lỏng các hạn chế về môi trường được quy định theo Chính sách nông nghiệp chung châu Âu (CAP) trước khi đồng ý, vào ngày 8/4, hạn chế nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp của Ukraine - vốn không phải chịu thuế hải quan từ tháng 6/2022.

Theo quyết định mới, chế độ ưu đãi đối với Ukraine, được đưa ra sau khi cuộc xung đột tại Ukraine bùng nổ và được gia hạn hàng năm kể từ đó, sẽ không được gia hạn sau tháng 6/2025. Cho đến lúc đó, Ủy ban châu Âu (EC) sẽ phải đàm phán một hiệp định thương mại tự do với Kiev. Trong khi đó, bắt đầu từ ngày 6/6 tới, nhập khẩu gia cầm, trứng, đường, ngô, mật ong, yến mạch và ngũ cốc từ Ukraine sẽ bị đánh thuế khi vượt quá mức trung bình được ghi nhận từ giữa năm 2021 đến cuối năm 2023, trong vòng 14 ngày.

“Bằng việc kéo dài sự hỗ trợ (về thuế hải quan) thêm một năm, thỏa thuận mới đạt được thể hiện sự đoàn kết liên tục” của EU nhưng đồng thời có thể “tăng cường các biện pháp bảo vệ nông dân EU trong trường hợp thị trường có biến động”, Nghị sĩ châu Âu người Latvia Sandra Kalniete khẳng định. Tuy nhiên, Kiev đã không hài lòng với quyết định này, cho rằng nông dân Ukraine sẽ thiệt hại 330 triệu euro mỗi năm trong bối cảnh viện trợ của Mỹ đóng băng và xung đột Nga-Ukraine không có dấu hiệu hạ nhiệt.

Đúng là Ukraine, bị cản trở bởi lệnh phong tỏa Biển Đen của Nga trong việc xuất khẩu nông sản sang các thị trường truyền thống, đã chuyển hướng bán hàng sang EU, với mức giá đặc biệt cạnh tranh. Theo EC, trong năm 2023, Ukraine đã trở thành nhà cung cấp nông sản thực phẩm thứ ba (chiếm 7% tổng lượng nhập khẩu), sau Brazil và Vương quốc Anh. Cụ thể hơn, trong năm ngoái, nước này đã bán sang thị trường châu Âu khối lượng trứng và lúa mạch cao gấp 10 lần so với giai đoạn trước xung đột, lúa mỳ gấp 20 lần và đường gần gấp 30 lần.

Ukraine cho rằng quyết định của 27 nước thành viên EU là không hợp lý trên thực tế, rằng xuất khẩu của Ukraine vào EU chỉ chiếm 1% lượng tiêu thụ trứng của người châu Âu và chỉ đáp ứng 2% nhu cầu gia cầm của họ. Điều đó có thể là “những gì người tị nạn Ukraine có thể dễ dàng tiêu thụ”, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Ukraine Mykola Solsky phát biểu với báo chí ngày 25/3. Bà cũng lập luận rằng giá ngũ cốc thế giới đang bị đẩy xuống do thu hoạch dồi dào ở Mỹ và Nam Mỹ cũng như xuất khẩu của Nga với giá thấp.

Trong bối cảnh này, các cuộc tranh luận giữa 27 nước EU đã diễn ra rất khó khăn. Một bên gồm các nước vùng Baltic cũng như Hà Lan và Đức, tuy phải đối mặt với sự bất mãn của nông dân, đều ủng hộ việc miễn trừ Kiev càng nhiều càng tốt. Thủ tướng Đức Olaf Scholz tuyên bố với những người đồng cấp tại Hội nghị thượng đỉnh châu Âu ngày 21/3 rằng: “Chúng ta không thể áp dụng các biện pháp gây tổn hại cho Ukraine” và “làm giảm thu nhập của nước này”.

Bên còn lại, gồm các nước láng giềng của Ukraine là Hungary, Slovakia, Bulgaria và dẫn đầu là Ba Lan, nơi các máy kéo thường xuyên ùn ùn tới chặn biên giới, yêu cầu EC phải có các biện pháp quyết liệt hơn. Về phần mình, bất chấp những tuyên bố ủng hộ Ukraine vô điều kiện lâu nay, Pháp vẫn tích cực vận động hậu trường để hạn chế hàng hóa nông nghiệp Ukraine.

Pháp muốn hạn chế nhập khẩu miễn thuế lúa mỳ mềm và lúa mạch, đồng thời muốn EC phải tính đến khối lượng nhập khẩu hàng Ukraine vào thị trường nội khối trong cả năm 2021, tức là giai đoạn trước xung đột, ngoài các năm 2022 và 2023 để có thể kích hoạt việc áp dụng lại thuế hải quan đối với cái gọi là sản phẩm “nhạy cảm”.

Sau cuộc "nổi dậy áo vàng" mùa Đông 2018/2019, Tổng thống Emmanuel Macron cũng lo ngại rằng sự bất mãn trong nông nghiệp sẽ có lợi cho đảng cực hữu Tập hợp Quốc gia (RN) hiện đang dẫn đầu trong các cuộc thăm dò bầu cử châu Âu. Trong bối cảnh đó, Tổng thống Pháp muốn nỗ lực đến cùng để đạt được mục tiêu.

EC cam kết giám sát chặt chẽ thị trường ngũ cốc châu Âu và hàng nhập khẩu từ Ukraine và nếu cần sẽ kích hoạt các biện pháp tự vệ ngay khi thị trường nội khối có biến động đáng kể.

Thỏa thuận đạt được vào tối 8/4 vẫn phải được Nghị viện châu Âu và các quốc gia thành viên thông qua cho dù chỉ là hình thức. Tuy nhiên, cuộc tranh luận vẫn chưa kết thúc và chắc chắn nó sẽ trở lại vị trí số một khi 27 nước thành viên EU phải thông qua một hiệp định thương mại tự do mới với Ukraine. Và thậm chí còn hơn thế nữa khi các cuộc đàm phán mở rộng được bắt đầu./.

THAM VỌNG XÂY DỰNG 2 NƯỚC ĐÔNG ÂU

Trước Thế chiến I, công dân châu Âu có thể đi từ Paris, Pháp đến Saint Petersburg, Liên Xô mà không cần có hộ chiếu hay loại giấy thông hành nào. Sau Thế chiến II, sự nghi kỵ lẫn nhau dẫn đến việc hộ chiếu trở thành vật cần thiết khi di chuyển trong phạm vi châu lục.

Ngày 14/6/1985 tại Schengen, một thị trấn nhỏ nổi tiếng về nghề nấu rượu nằm ở cực Đông - Nam của nước Luxembourg, năm nước thuộc Cộng đồng châu Âu (EU) là Pháp, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg và Tây Đức cùng nhau ký Hiệp ước Schengen, thỏa thuận bãi bỏ việc kiểm soát biên giới giữa năm nước này.

Hiệp ước Schengen nhằm khôi phục lại trật tự, niềm tin lẫn nhau giữa các quốc gia châu Âu được hình thành từ lâu đời. Văn bản này chính là tiền đề cho công dân được đi lại tự do trong vùng lãnh thổ chung của năm nước mà không cần xin visa (thị thực).

Từ năm quốc gia đến "đại lãnh thổ"

Đến năm 1995, Thỏa thuận và Hiệp ước Schengen đi vào thực hiện chính thức, biến khu vực Schengen trở thành một “đại lãnh thổ” thống nhất, trong đó các nước thành viên đều mở cửa, bãi bỏ các biện pháp kiểm soát ở biên giới, cho phép công dân đi lại tự do trong khu vực.

Gần 40 năm qua, các quốc gia thành viên Schengen không ngừng đề xuất những sáng kiến và áp dụng các chính sách phù hợp để phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch trong khối.

Thứ nhất, đó là visa Schengen. Đối với công dân các nước ngoài khối Schenghen, sự ra đời visa Schengen giúp họ có cơ hội tiếp cận một lúc với 27 nước chỉ bằng một lần thực hiện thủ tục xin visa. Điều này giúp Schengen trở thành điểm đến thống nhất, rộng lớn và hấp dẫn hơn rất nhiều so với từng nước riêng lẻ trước đó.

Thêm nữa, đây là lợi thế cạnh tranh để thu hút vốn đầu tư, nguồn lực lao động và du khách nước ngoài đến tham quan, sinh sống, học tập, làm việc, kinh doanh, góp phần phát triển kinh tế xã hội trong khu vực vượt bậc so với trước kia. Ngoài ra, việc xoá bỏ kiểm soát biên giới góp phần giảm thời gian, giá thành vận chuyển hàng hóa qua châu Âu, thúc đẩy xúc tiến thương mại và hợp tác nhiều mặt giữa các nước.

Thứ hai, đó là hệ thống thông tin Schengen (SIS). SIS giúp các nước thành viên tăng cường hợp tác xuyên biên giới thông qua việc thiết lập hệ thống cảnh sát, hải quan, biên phòng và hệ thống thông tin chung đối với tất cả các bên tham gia Hiệp ước. SIS là kho cơ sở dữ liệu chung bao gồm thông tin về người cần tìm kiếm, mất tích hoặc đang bị truy nã cũng như xe và giấy tờ tùy thân liên quan, góp phần đáng kể cho quá trình tìm kiếm thông tin cũng như bảo vệ an ninh trong khu vực.

Đây cũng là công cụ đắc lực nhằm giúp cảnh sát và cơ quan lãnh sự truy cập kho dữ liệu chung về tội phạm, trao đổi thông tin trực tiếp, giám sát xuyên biên giới và truy bắt tội phạm nhằm chống khủng bố, buôn bán người và nhập cư bất hợp pháp.

Thứ ba, đó là hệ thống xuất nhập cảnh (EES). EES đã thúc đẩy tự động hóa việc đăng ký và kiểm soát dữ liệu cá nhân của công dân các quốc gia ngoài EU qua biên giới bên ngoài Khu vực Schengen. Trong đó, ESS sẽ thay thế hệ thống đóng dấu hộ chiếu thủ công và giám sát điện tử từng lần nhập cảnh và xuất cảnh, từ chối nhập cảnh và thời gian lưu trú của công dân các nước ngoài EU khi họ đi qua biên giới.

Quá trình không ngừng mở rộng

Kể từ khi thành lập, khối Schengen đã trải qua bảy lần mở rộng. Bắt đầu từ năm 1991, khối Schengen được mở rộng với sự gia nhập của Italy, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha (1991), Hy Lạp (1992), Áo (1995), Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Điển cùng với Iceland, Na Uy (1996). Sau đợt mở rộng trên, khu vực Hiệp ước Schengen có 15 thành viên.

Ngày 21/12/2007, khu vực Schengen có thêm chín thành viên mới là Czech, Estonia, Hungary, Latvia, Lithuania, Malta, Ba Lan, Slovakia và Slovenia, nâng tổng số các nước trong khối lên 24 nước với hơn 400 triệu dân, đưa biên giới khu vực Schengen tiến sát tới các nước Ukraine, Belarus và Nga.

Những năm tiếp theo, Schengen lại được mở rộng với sự kết nạp của Thụy Sỹ (2008), Liechtenstein (2011) và Croatia (1/1/2023). Đến 31/3/2024, sau 13 năm chờ đợi, Bulgaria và Romania gia nhập một phần khối đi lại tự do Schengen với việc bỏ kiểm soát biên giới đường hàng không và đường biển.

Tuy nhiên, các biện pháp kiểm soát trên biên giới đất liền sẽ vẫn được duy trì do Áo phản đối việc các nước Đông Âu trở thành thành viên chính thức của khu vực Schengen vì lo ngại làn sóng người xin tị nạn tràn vào.

Sau khi Bulgaria và Romania gia nhập, khu vực Schengen hiện có 29 thành viên, bao gồm 25 trong số 27 quốc gia thành viên EU, cùng với và các quốc gia còn lại trong khối Schengen là Thụy Sỹ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein.

Trước khi kết nạp thêm Bulgaria và Romania, khu vực này gồm 27 quốc gia thành viên, trải rộng trên diện tích 4 triệu km2, với dân số gần 420 triệu người. Với việc gia nhập của Romania và Bulgaria, khu vực Schengen tăng lên 4,5 triệu km2 trong khi dân số tăng lên 450 triệu người.

Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Ursula von der Leyen cho rằng, đây là thời khắc lịch sử của khối Schengen và nêu rõ các nước đang cùng nhau xây dựng một châu Âu mạnh mẽ, đoàn kết hơn cho mọi công dân. Tuyên bố của EC nhấn mạnh, Bulgaria và Romania sẽ góp phần tăng cường các nỗ lực chung của châu Âu nhằm giải quyết vấn đề an ninh của EU ở các biên giới ngoài khối và thách thức về di cư.

Tác động của sức hấp dẫn mới

Việc Bulgaria và Romania gia nhập một phần khối đi lại tự do Schengen đã có ảnh hưởng lớn đến hợp tác và hội nhập ở châu Âu.

Đầu tiên, sự gia nhập Schengen của Bulgaria và Romania đã xóa bỏ rào cản tự do di chuyển của hai quốc gia này trên đường biển và đường hàng không cũng như gỡ bỏ đường biên giới đất liền với các nước còn lại trong khối.

Đầu tháng 3/2024, Ủy ban châu Âu đã đưa ra các Khung hợp tác tăng cường hợp tác về di cư, an ninh biên giới và các thủ tục tị nạn. Những khuôn khổ này được xây dựng dựa trên các dự án thí điểm thành công về quy trình tị nạn và hồi hương nhanh chóng.

Ngoài ra, sáng kiến hợp tác cảnh sát khu vực đã được thiết lập giữa các quốc gia thành viên dọc theo các tuyến đường di cư lớn như Bulgaria, Romania, Áo, Hy Lạp, Hungary và Slovakia nhằm mục đích tìm giải pháp lâu dài để giải quyết các nguy cơ cấp bách hiện tại, trong đó có vấn đề giải quyết tội phạm xuyên biên giới.

Sự gia nhập của Bulgaria và Romania được dự báo tạo nên những thay đổi mới trong làn sóng nhập cư. Thủ tục nhập cư của EU cần có những thay đổi phù hợp để thích ứng với việc Bulgaria và Romania gia nhập Schengen bằng đường hàng không và đường biển. Các quốc gia sẽ cần điều chỉnh việc cấp thị thực và chính sách biên giới bên ngoài để phù hợp với các quy định cập nhật của Schengen. Điều này dẫn đến một số thay đổi trong thủ tục nhập cư nói chung.

Bên cạnh đó, việc khối Schengen có thêm hai nước Đông Âu mở ra một kỷ nguyên mới cho châu Âu thống nhất cũng như chứng minh về giá trị và an ninh Schengen.

Đây là cột mốc lịch sử tượng trưng cho cam kết của EU đối với một liên minh ngày càng chặt chẽ hơn, được xây dựng dựa trên những lợi ích căn bản trong việc bảo đảm quyền tự do di chuyển cho người dân.

Bằng cách tham gia khối Schengen, hai nước này giúp mở rộng khu vực di chuyển tự do lớn nhất trên toàn cầu, khiến nó càng trở nên hấp dẫn hơn.

Cuối cùng, đối với công dân Bulgaria và Romania, họ đã phần nào hoàn thành “giấc mơ 13 năm”. Việc gia nhập khu vực Schengen mang lại cảm giác tự hào và kết nối mạnh mẽ với châu Âu.

Theo các chuyên gia về chính sách đối ngoại, nhiều người Bulgaria và Romania cảm thấy bị cô lập khi phải đi qua làn đường riêng tại các cửa khẩu biên giới. Việc dỡ bỏ hàng đợi kiểm soát biên giới giúp họ có thể vượt qua các chốt kiểm tra biên giới chỉ trong vài phút, giúp hành trình của họ thuận tiện và tự do hơn.

Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội mới được mở ra, Bulgaria và Romania vẫn còn gặp nhiều thách thức sau khi gia nhập, trong đó phải kể đến những trở ngại trong giao thông đường bộ. Các đơn vị vận tải đường bộ vẫn đang phải đối mặt với những tổn thất tài chính do phải chờ đợi không thời hạn ở biên giới đất liền với các nước láng giềng. Cả hai chính phủ đều quyết tâm đàm phán để đạt được quyền tự do đi lại trên bộ, tiến tới đạt được tư cách thành viên đầy đủ của Schengen vào cuối năm nay.

Sự mở rộng mới nhất cho thấy lục địa châu Âu đang tiếp tục nỗ lực thể hiện sự gắn kết mạnh mẽ hướng tới phát triển mới. Chắc chắn, vẫn sẽ có những tồn tại, chẳng hạn như di cư, an ninh và bảo đảm hợp tác giữa các quốc gia tham gia…

Khu vực Schengen cần tiếp tục phát triển, đổi mới và thích ứng với thay đổi của hoàn cảnh, đặc biệt là những thay đổi địa chính trị ngày nay. Giải quyết được những thách thức này chắc chắn sẽ là một trong những ưu tiên trước mắt của EU để bảo đảm cho khu vực này duy trì và củng cố hình ảnh của mình, vốn là biểu tượng của sự thống nhất và tiến bộ của châu Âu.

PHÁP ĐANG LÀM KHÓ EU VỚI KẾ HOẠCH KHỦNG MUA LNG CỦA NGA

Theo dữ liệu được phân tích bởi tổ chức tư vấn Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và không khí sạch (CREA), trong ba tháng đầu năm nay, việc cung cấp khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) của Nga sang Pháp đã tăng nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác ở EU.

Hiện, Ủy ban Châu Âu bắt đầu chuẩn bị cho một gói trừng phạt thứ 14 chống lại Nga. Nhưng việc cấm LNG Nga khó có thể xuất hiện trong gói, bất chấp các yêu cầu liên tục từ các nước vùng Baltic và Ba Lan.

Pháp chi tiền khủng để mua LNG của Nga

Tổng cộng, Paris đã trả hơn 600 triệu Euro cho Điện Kremlin để mua LNG trong quý I/2024.

Hoạt động buôn bán khí đốt ngày càng tăng của Paris với Nga diễn ra khi Tổng thống Macron đang tìm cách có đường lối cứng rắn hơn để ủng hộ Kiev ở thời điểm chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga bước sang năm thứ ba.

Pháp khẳng định, việc mua khí đốt của họ là cần thiết để duy trì nguồn cung cấp cho các hộ gia đình trên khắp Châu Âu và nước này đang vướng vào một thỏa thuận dài hạn với Nga - vấn đề rất phức tạp về mặt pháp lý.

Nhưng các nhà phê bình cho rằng, Paris có thể làm nhiều hơn để giảm lượng mua hàng nhưng đất nước không hành động một phần là do sự phản đối từ tập đoàn năng lượng quốc gia lớn TotalEnergies của Pháp.

Trong mọi trường hợp, việc nhập khẩu cho thấy Pháp chưa thể dập tắt nguồn thu từ nhiên liệu hóa thạch của Nga. Trong khi đó, Moscow tìm ra những cách ngày càng sáng tạo để phá vỡ các biện pháp trừng phạt hiện có.

Vài tháng sau khi Nga tiến hành chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine, Liên minh Châu Âu (EU) đã đưa ra kế hoạch chấm dứt sự phụ thuộc của khối vào việc nhập khẩu hóa thạch của Moscow vào năm 2027.

Cho đến nay, khối 27 thành viên phần lớn đã thành công. Mặc dù một số nước ở EU vẫn tiếp tục mua nhiên liệu hạt nhân, dầu và khí đốt từ Nga nhưng khối đã cắt giảm khoảng 2/3 sự phụ thuộc vào khí đốt của Moscow. Không chỉ thế, EU còn áp đặt lệnh cấm toàn diện đối với nhập khẩu than và dầu bằng đường biển.

Việc loại trừ LNG của Nga lại không đơn giản như vậy. Báo cáo mới của CREA cho hay, mặc dù LNG chỉ chiếm 5% lượng tiêu thụ khí đốt của EU vào năm 2023, nhưng các nước EU đã trả cho Moscow hơn 8 tỷ Euro để xuất khẩu.

Pháp không phải là "thủ phạm" duy nhất khiến "túi tiền" Điện Kremlin dày thêm

Dữ liệu vận chuyển cho thấy, ít nhất 9 nước EU tiếp tục mua LNG của Nga. Nhưng Paris dẫn đầu khối cả về khối lượng nhập khẩu trong 3 tháng đầu năm 2024.

Bỉ, Tây Ban Nha và Hà Lan là ba khách hàng mua LNG lớn nhất của Moscow sau Pháp. Ba quốc gia này cho biết sẽ ủng hộ các bước nhằm giảm số lượng mua nhưng tất cả phải cùng nhau hành động.

Bộ trưởng Năng lượng Tây Ban Nha Teresa Ribera nhấn mạnh: "Con đường duy nhất phía trước là một cách tiếp cận chung về việc giảm hoặc cấm nhập khẩu LNG Nga. Chúng tôi cần nó càng sớm càng tốt".

Lithuania thậm chí còn đề xuất lệnh cấm hoàn toàn đối với LNG của Nga. Phía Pháp vẫn chưa có tuyên bố rõ ràng về vấn đề này.

Mới đây, Bộ trưởng Kinh tế Pháp Bruno Le Maire nói với các nhà lập pháp rằng, việc chấm dứt sự phụ thuộc của nước này vào khí đốt của Moscow nên được thực hiện “dần dần để tránh tác động quá tàn khốc đến thị trường” và giá cả tăng vọt.

Một phát ngôn viên của Bộ Kinh tế Pháp thông tin, việc tăng khí đốt của Nga một phần là do các cuộc đình công “làm gián đoạn mạnh mẽ” dòng chảy thị trường.

Phát ngôn viên trên nhấn mạnh: "Paris cũng thường xuyên thảo luận những nỗ lực nhằm giảm nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch của Nga với các đồng minh EU. Lượng khí đốt của Nga đi qua Pháp và giúp cung cấp cho các quốc gia khác như Italy. Chính phủ đang nghiên cứu khả năng cung cấp nguồn thay thế… mà không gây nguy hiểm cho an ninh năng lượng Châu Âu”.

Thế khó của Pháp và EU

Tập đoàn năng lượng khổng lồ TotalEnergies của Pháp nắm giữ 20% cổ phần trong dự án Yamal LNG, dự án vận hành một nhà máy hóa lỏng ở tây bắc Siberia do công ty năng lượng tư nhân Nga Novatek sở hữu.

Theo hợp đồng dài hạn, Công ty Pháp buộc phải tiếp tục mua ít nhất 4 triệu tấn LNG từ cơ sở này mỗi năm cho đến năm 2032.

Giám đốc điều hành TotalEnergies Patrick Pouyanne cho rằng, lệnh cấm LNG Nga trước năm 2025 hoặc 2026 của EU là vô lý. Đây là thời điểm các dự án LNG mới đi vào hoạt động trên toàn thế giới, kể cả ở Mỹ..

Bộ kinh tế Pháp cho biết, vấn đề LNG của Nga không phải là về hợp đồng hay hoạt động của TotalEnergies mà là về cơ hội và rủi ro khi áp đặt các lệnh trừng phạt mới đối với toàn bộ khối EU. Tuy nhiên, các chuyên gia lại không nghĩ như vậy.

Ông Nguyễn Phúc Vinh, một nhà phân tích năng lượng tại Viện Jacques Delors có trụ sở tại Paris (Pháp) nhận định, Paris vẫn có thể tìm được hàng nhập khẩu thay thế LNG Moscow. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp Pháp liên tục sử dụng ít khí đốt hơn kể từ năm 2022, trong khi đó, mức dự trữ quốc gia năm 2024 đang cao hơn năm ngoái. Điều này làm giảm nguy cơ thiếu hụt nguồn cung.

Ở cấp độ EU, ông Aura Sabadus, nhà phân tích thị trường khí đốt cấp cao tại công ty tình báo thị trường ICIS cho hay, ngay cả khi lệnh cấm LNG được ban hành, khối có thể tăng cường mua hàng từ Mỹ.

Hiện, Ủy ban Châu Âu bắt đầu chuẩn bị cho một gói trừng phạt thứ 14 chống lại Nga. Nhưng LNG khó có thể xuất hiện trong gói, bất chấp các yêu cầu liên tục từ các nước vùng Baltic và Ba Lan.

Một quan chức cấp cao của Ủy ban Châu Âu thừa nhận, khó đạt được sự đồng thuận trong khối về vấn đề cấm LNG của Moscow.

Việc "gỡ rối" các hợp đồng dài hạn với các công ty Nga là một vấn đề khó đối với EU.

Ông Doug Wood, Chủ tịch ủy ban khí đốt tại Liên đoàn các nhà kinh doanh năng lượng châu Âu cho biết, các công ty năng lượng có thể giảm nhập khẩu khí đốt Nga đến giới hạn tối thiểu.

Ngoài ra, báo cáo của CREA đề xuất, các chính phủ EU có thể áp đặt giới hạn giá đối với nhập khẩu LNG của Nga. Phân tích cho thấy, giới hạn giá của EU được đặt ở mức 17 Euro/MWh có thể làm giảm khoảng 1/3 thu nhập LNG của Moscow.

Nhưng về cơ bản, bất kỳ giải pháp nào cũng cần có hành động chung - ít nhất là từ các quốc gia nhập khẩu lớn nhất của EU - để dòng chảy LNG Nga không tìm được hướng đi mới - giống như cách Moscow làm với dầu mỏ.

PHÁP “ĐAU ĐẦU” VÌ OLYMPIC 2024

Theo Bộ trưởng Bộ Lực lượng Vũ trang Pháp, khoảng 2.000 binh sĩ và cảnh sát nước ngoài sẽ được cử tới Paris để tăng cường an ninh cho Thế vận hội Olympic Mùa hè.

Động thái trên diễn ra khi Pháp vẫn đang trong tình trạng cảnh giác cao độ sau các mối đe dọa tấn công.

Bộ trưởng Bộ Lực lượng Vũ trang Pháp Sebastien Lecornu nói với kênh tin tức LCI của Pháp: "Chúng tôi có khoảng 2.000 sĩ quan cảnh sát, hiến binh và quân đội nước ngoài sẽ tham gia hệ thống bảo vệ cho Thế vận hội Mùa hè".

Pháp - nước sẽ đăng cai Thế vận hội Mùa hè từ ngày 26/7 đến ngày 11/8 - đã nâng mức cảnh báo an ninh lên mức cao nhất sau vụ tấn công khủng bố phòng hòa nhạc ở Moscow (Nga) khiến ít nhất 145 người thiệt mạng vào ngày 22/3. Tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng đã tuyên bố chịu trách nhiệm về vụ thảm sát.

Bộ trưởng Lecornu cho biết lực lượng tiếp viện sẽ cung cấp "các chức năng cụ thể", bao gồm huấn luyện chó, cưỡi ngựa và tuần tra bằng ngựa.

Vào cuối tháng 3, Ba Lan cho biết nước này sẽ cung cấp chó nghiệp vụ chuyên đánh hơi để phát hiện bom và hỗ trợ các hoạt động chống khủng bố nhưng không nêu rõ số lượng.

Gần 45.000 cảnh sát và hiến binh sẽ được huy động ở khu vực Paris để đảm bảo an ninh an toàn cho lễ khai mạc Thế vận hội vào ngày 26/7. Khác với truyền thống, lễ khai mạc Thế vận hội năm nay sẽ được tổ chức dọc theo sông Seine thay vì sân vận động chính.

Trong thời gian diễn ra Thế vận hội, 18.000 binh sĩ quân đội Pháp sẽ được triển khai, trong đó có 3.000 người chịu trách nhiệm giám sát trên không, cùng với khoảng 35.000 cảnh sát và hiến binh.

Nguồn: CAND; Bnews; Báo Quốc Tế; Thương hiệu & Công luận; VTV

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Việt Nam

Người Việt hải ngoại

EU

Thế giới

Lên đầu trang