EU: Mô hình DARPA; Tự 'lách' lệnh trừng phạt; 'Cơn đau đầu' ở Hà Lan; Chống bán phá giá thép TQ; Chia rẽ chính trị ở Slovakia

CHÂU ÂU CÓ CHẤP NHẬN RỦI RO ĐỂ THEO MÔ HÌNH DARPA?

Nếu châu Âu muốn tạo ra một cơ quan tài trợ cho nghiên cứu đỉnh cao, sẵn sàng chấp nhận rủi ro ở mức rất cao theo mô hình DARRA, thì phải nhận được những hỗ trợ hết mức của chính phủ.

Cuối tháng tư vừa qua, trong buổi diễn thuyết của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron tại trường Đại học Sorbonne, ông đã kêu gọi châu Âu xây dựng một cơ quan dạng DARPA của chính châu Âu, để có thể tạo ra “những nhóm nghiên cứu khoa học xuất sắc nhất trong từng lĩnh vực”. Nhưng để có được điều này, cơ quan mới DARPA đó phải sẵn sàng “chấp nhận rủi ro, do đó sẽ là những mất mát tài chính qua các khoản tài trợ hào phóng khi các dự án thất bại, vốn là yếu tố chính để tạo ra những dự án đột phá”.

Đây không phải là lần đầu tiên ông Macron kêu gọi điều này. Vào năm 2017, ông đã có một trao đổi tương tự, sau khi được cử tri Pháp bỏ phiếu bầu chọn vào vị trí Tổng thống Pháp lần đầu tiên. Khi đó, cũng trong khán phòng Đại học Sorbonne, ông Macron đã kêu gọi thành lập một cơ quan tài trợ mới của châu Âu “cho đổi mới sáng tạo mang tính đột phá”. Mục tiêu của ông Macron là cơ quan này sẽ giúp cho châu Âu bắt kịp Mỹ và một vài quốc gia châu Á khác đang sở hữu nhiều công nghệ đột phá như trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ sinh học.

Tại sao DARPA lại có tác động lớn đến vậy? Chúng ta cùng nhìn vào lịch sử phát triển của cơ quan tài trợ đặc biệt này. Được thành lập từ năm 1958, sứ mệnh của DARPA là lấp đầy khoảng trống giữa các nghiên cứu hàn lâm đỉnh cao với những đổi mới sáng tạo trong quân đội. Các dự án do cơ quan này tài trợ đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển chip silicon, mạng internet, máy bay chiến đấu tàng hình. Không có những tài trợ giai đoạn đầu mang tính chiến lược của DARPA và một số cơ quan khác của Chính phủ Mỹ đối với các dự án dạng đó thì việc ghi nhận giọng nói, các bộ vi xử lý, hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu, màn hình chạm và nhiều công nghệ khác, ví dụ như iPhone có thể trở thành không tưởng.

DARPA có một ngân sách hoạt động hằng năm là ba tỉ USD và 220 nhân viên, đồng thời tuyển dụng ngắn hạn 100 nhà quản lý chương trình có trách nhiệm giám sát 250 chương trình R&D ở sáu lĩnh vực cụ thể, bao gồm công nghệ sinh học, đổi mới sáng tạo công nghệ thông tin và công nghệ vi hệ thống. Các nhà quản lý này phải là người xuất sắc trong lĩnh vực của mình và được tuyển dụng theo hợp đồng từ ba đến năm năm.

Có ba đặc điểm dẫn đến việc DARPA thành công là đặt vào trung tâm năng lực chuyển đổi nghiên cứu cơ bản thành những đột phá công nghệ. Đầu tiên, cơ quan này có tính tự chủ và linh hoạt cao. Các nhà quản lý dự án vận hành trong một hệ thống phân cấp phẳng (không có người trung gian giữa thành viên và ban quản trị, các nhóm có quyền tự quyết). Thứ hai, các chương trình của DARPA đều được định hướng liên quan tới sứ mệnh của mình: các bộ phận kỹ thuật đều xác định được các năng lực công nghệ họ tìm kiếm và quản lý được chương trình nghiên cứu. Thứ ba, DARPA sẵn sàng chấp nhận các dự án có tính rủi ro cao và thất bại được coi như một phần có thể chấp nhận được trong tiến trình tạo ra đột phá công nghệ.

Tuy nhiên, ngoài việc muốn cơ quan quỹ vận hành thành công và đưa ra những gói hỗ trợ dài hạn thì phải nhận được những hỗ trợ hết mức của chính phủ; ngoài ra cũng không có nhiều nhà nghiên cứu chia sẻ tầm nhìn về cơ quan này của tổng thống.

Hiện nay, những ủng hộ cho một mô hình DARPA của châu Âu dựa trên việc châu Âu đang đứng sau Mỹ về đổi mới sáng tạo. Với việc rót tiền vào R&D, các doanh nghiệp Mỹ đang chiếm ưu thế về các công nghệ phần mềm và công nghệ số, trong khi một nửa các đầu tư vào R&D của doanh nghiệp châu Âu là ở các ngành công nghiệp truyền thống như dược phẩm và ô tô.

Châu Âu đang bị mắc kẹt trong cái mà các tác giả của một báo cáo mới công bố vào tháng trước gọi là “bẫy công nghệ trung bình” - do bị chuyên môn hóa trong những công nghệ đã định hình, không đòi hỏi chuyên môn mới ở mức cao. Nếu châu Âu muốn phá vỡ thế khó này, họ không chỉ phụ thuộc vào các nguồn tài trợ tư nhân đang có mà cần phải có dạng mô hình đầu tư công như DARPA. Dẫu có thể phải chấp nhận rủi ro và thất bại ở mức cao nhưng lại có tiềm năng vô cùng lớn cho những đột phá đỉnh cao.

Đó là mô hình mà nhiều nơi đang học tập. Ở Đức, một phiên bản của nó là SPRIN-D tập trung vào các dự án đổi mới sáng tạo không liên quan đến quốc phòng. Nhật Bản có chương trình R&D Moonshot; Anh thành lập ơ quan Nghiên cứu tiên tiến và Đổi mới sáng tạo vào năm ngoái, tập trung cho các lĩnh vực ngoài quốc phòng.

Các nỗ lực này đều phụ thuộc vào các nhà hoạch định chính sách. Do vậy, để vận hành một tổ chức như của DARPA ở châu Âu, có thể cần các thành viên của liên minh châu Âu đồng lòng ủng hộ. Và ngược lại cần một nhà khoa học có uy tín theo đuổi kế hoạch thành lập DARPA cùng với một cuộc vận động của các nhà khoa học và đại diện các tổ chức khoa học nhằm kêu gọi mọi người ủng hộ kế hoạch này. Tuy nhiên hiện tại thì các nhà khoa học đang rất lo ngại về việc bản thân ngân sách dành cho khoa học của đã không như kỳ vọng nên sự xuất hiện của một một cơ quan như vậy có thể sẽ dẫn đến việc làm phân mảnh thêm nguồn ngân sách đó.

Vào đầu tháng 6/2024, trước khi diễn ra các cuộc bầu cử vào Nghị viện châu Âu, một khối liên minh các tổ chức do Research Matters (Những vấn đề nghiên cứu), một cuộc vận động để bảo vệ các khung tài trợ cho khoa học trong tương lai của châu Âu khỏi tình trạng bị cắt xén, sẽ được tổ chức. Họ có đủ căn cứ để lo ngại bởi hiện tại, ngân sách nghiên cứu qua Horizon Europe, chương trình tài trợ cho nghiên cứu hàng đầu châu Âu, đã được quyết định là sẽ cắt đi còn 2,1 tỉ Euro (tương đương 2,3 tỉ USD). Một phần do đổ kinh phí 1,5 tỷ Euro cho các nghiên cứu về quốc phòng.

Nếu đạt được mức tài trợ như quy mô của DARPA dành cho các dự án của mình, cơ quan DARPA này của châu Âu sẽ phải nhận được hằng năm khoảng 750 triệu Euro (tương đương 0,75% ngân sách của Horizon Europe).

Một phần trong tình trạng khó xử của châu Âu là phải duy trì được các khoản đầu tư bền vững cho các dự án nghiên cứu được thiết kế nhằm đạt được “đổi mới sáng tạo mang tính đột phá”. Trong những tháng gần đây, đã có những ý kiến kêu gọi, cần suy nghĩ về những quỹ tài trợ như vậy.

Gần bảy thập kỷ tồn tại của DARPA cho thấy, chương trình này tự nó đã được nhận được rất nhiều ủng hộ để tồn tại và thay đổi theo hướng đúng đắn nhất. DARPA phát triển một cách kiên định theo mục tiêu của mình mà không bị hy sinh bởi những thay đổi trong xu hướng tài trợ và tiếp tục tồn tại bất chấp những thay đổi của các bộ máy chính quyền và ưu tiên của họ.

Các nhà khoa học cho rằng, ý tưởng của Tổng thống Macron cần được hiện thực hóa theo những đặc điểm đó của DARPA và muốn thành công thì DARPA châu Âu cần được sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng khoa học và các tổ chức khoa học, và đảm bảo với họ là sự xuất hiện của cơ quan tài trợ mới không làm ảnh hưởng đến nguồn tài trợ đã có.

MUA DẦU NGA QUA NGẢ THỔ NHĨ KỲ, CHÂU ÂU TỰ LÁCH LỆNH TRỪNG PHẠT DO MÌNH TẠO RA?

Việc chuyển hướng dầu của Nga qua ngả Thổ Nhĩ Kỳ không chỉ là hình thức “lách” các lệnh trừng phạt mà còn tạo ra nguồn thu thuế đáng kể cho Moscow.

Trang Oil Price hôm 17/5 dẫn báo cáo gần đây của Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Không khí sạch (CREA) và Trung tâm Nghiên cứu Dân chủ (CSD) tiết lộ Liên minh châu Âu (EU) đã nhập khẩu sản phẩm dầu trị giá 3 tỷ Euro từ các cảng của Thổ Nhĩ Kỳ, nơi chủ yếu xử lý dầu Nga nhưng không có trung tâm lọc dầu.

Hoạt động thương mại này nghĩa là các lệnh trừng phạt của G7 và EU đối với các sản phẩm dầu mỏ từ Nga vẫn bị “né” một cách hiệu quả.

Kể từ khi lệnh cấm mà G7 và EU áp đặt lên sản phẩm dầu Nga vận chuyển đường biển có hiệu lực vào ngày 5/2 năm ngoái cho đến cuối tháng 2 năm nay, EU đã nhập 5,16 triệu tấn sản phẩm dầu trị giá 3,1 tỷ Euro từ 3 cảng của Thổ Nhĩ Kỳ.

Các cảng, bao gồm Ceyhan, Marmara Ereğlisi và Mersin, vốn thiếu khả năng lọc dầu, đã nhập khẩu 86% sản phẩm dầu từ Nga trong giai đoạn này, biến Thổ Nhĩ Kỳ thành một trung tâm tái xuất khẩu quan trọng.

Nhập khẩu dầu Nga của Thổ Nhĩ Kỳ đã tăng gần gấp 5 lần trong thập kỷ qua. Đến năm 2023, Thổ Nhĩ Kỳ trở thành nước mua sản phẩm dầu mỏ lớn nhất của Nga trên toàn cầu, chiếm 18% tổng kim ngạch xuất khẩu của Nga.

Mức độ phụ thuộc đã tăng từ 52% vào năm 2022 lên 72% vào năm 2023, cho thấy sự lệ thuộc ngày càng sâu sắc vào các sản phẩm tinh chế của Nga như dầu diesel, gasoil và nhiên liệu máy bay phản lực.

Các cuộc điều tra của CREA và CSD cho thấy các thực thể châu Âu có thể đã nhập khẩu các sản phẩm dầu của Nga được pha trộn hoặc tái xuất từ các kho lưu trữ của Thổ Nhĩ Kỳ.

Một ví dụ được trích dẫn là kho cảng dầu Toros Ceyhan, nơi đã nhận 26.923 tấn gasoil từ cảng Novorossiysk của Nga trên Biển Đen vào tháng 5 năm ngoái và sau đó vận chuyển một khối lượng tương tự đến nhà máy lọc dầu MOH Corinth của Hy Lạp.

Hình thức thương mại này khai thác những lỗ hổng pháp lý, cho phép các sản phẩm dầu pha trộn của Nga tràn vào EU.

Việc chuyển hướng dầu của Nga qua ngả Thổ Nhĩ Kỳ không chỉ là hình thức “lách” các lệnh trừng phạt do chính EU và các đối tác G7 tự đặt ra, mà còn tạo ra nguồn thu thuế đáng kể cho Moscow, ước tính khoảng 5,4 tỷ Euro, góp phần làm đầy “hòm chiến tranh” của Tổng thống Nga Vladimir Putin.

Để giải quyết vấn đề này, CREA và CSD khuyến nghị EU thắt chặt luật pháp, thực thi các quy tắc xuất xứ nghiêm ngặt và điều tra các lô hàng để ngăn chặn việc trốn tránh các lệnh trừng phạt tiếp diễn.

Ví dụ, trong trường hợp vi phạm, CREA và CSD cho rằng các đối tượng phải bị xử phạt và chấp hành các hình thức cấm và nộp các khoản tiền phạt.

Các cơ quan thực thi phải có quyền lên tàu, kiểm tra các tài liệu chứng nhận cho thấy bằng chứng về nguồn gốc của dầu và thử nghiệm hóa học để xác định xem hàng hóa có chứa dầu có nguồn gốc từ Nga hay không.

Các tàu chở dầu khai man về nguồn gốc nhiên liệu sẽ bị coi là buôn lậu với mọi hậu quả pháp lý liên quan. Điều này bao gồm việc bắt giữ các tàu trên biển và tịch thu chúng

CƠN ĐAU ĐẦU MỚI MANG TÊN HÀ LAN Ở CHÂU ÂU

Hà Lan là quốc gia châu Âu mới nhất chứng kiến sự chuyển dịch chính trị mạnh mẽ sang cánh hữu.

Việc các đảng dân tuý và cánh hữu ngày càng nhận được sự ủng hộ của cử tri như tại Hà Lan đang thách thức giới lãnh đạo Liên minh châu Âu (EU) trong bối cảnh cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu vào tháng 6 tới đang tới gần.

Đảng Tự do theo đường lối cực hữu giành chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cử hồi cuối năm ngoái tại Hà Lan hôm qua đã công bố thoả thuận liên minh với 3 đảng cánh hữu khác. Với khẩu hiệu “Hy vọng, lòng can đảm và niềm tự hào”, thoả thuận liên minh nhấn mạnh các ưu tiên của chính phủ mới, bao gồm thắt chặt chính sách tị nạn, huỷ bỏ việc đoàn tụ gia đình đối với người tị nạn và giảm số lượng sinh viên quốc tế đang học tập tại nước này.

Lãnh đạo đảng Tự do Geert Wilders đã ca ngợi đây là một thoả thuận lịch sử: “Cùng nhau, chúng ta đang làm nên lịch sử, ngay lập tức từ đảng đối lập lớn nhất trở thành chính phủ liên minh lớn nhất. Mặt trời sẽ lại chiếu sáng ở Hà Lan. Tôi nghĩ rằng bất cứ ai đọc thỏa thuận liên minh giữa 4 đảng đều nhận thấy rất nhiều thay đổi sẽ diễn ra ở Hà Lan. Chính sách tị nạn nghiêm ngặt nhất từ ​​trước tới nay, sẽ có luật khủng hoảng tị nạn và sẽ có luật kiểm soát biên giới,... Không chỉ là về vấn đề người tị nạn, hàng triệu người Hà Lan sẽ hài lòng với thỏa thuận liên minh giữa 4 đảng. Chúng tôi sẽ làm việc chăm chỉ vì Hà Lan và tất cả người dân Hà Lan. Và tôi hứa rằng: Hà Lan sẽ lại là của chúng ta.”

Ông Geert Wilders là một chính trị gia có tư tưởng bài Hồi giáo và hoài nghi châu Âu. Dù ông đã miễn cưỡng chấp nhận từ bỏ giấc mơ điều hành nền kinh tế lớn thứ 5, song việc Hà Lan chuẩn bị có một chính phủ cực hữu nhất trong nhiều thập kỷ không khỏi khiến các nhà lãnh đạo Liên minh châu Âu lo ngại. Xu hướng cử tri bỏ phiếu cho các đảng theo đường lối dân tuý và cực hữu đã gia tăng và trở nên đáng chú ý trong cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu năm 2019 và ngày càng được củng cố trong những năm gần đây. Các đảng cực hữu đã lên nắm quyền tại Hungary và Italy, tham gia vào chính phủ ở Phần Lan và Slovakia và hiện nay là Hà Lan.

Kết quả các cuộc thảm dò cho thấy, với sự gắn kết cao hơn, các đảng chính thống trong Nghị viện châu Âu vẫn được cho là sẽ tiếp tục dẫn đầu trong cuộc bầu cử vào tháng 6 tới. Tuy nhiên, trong bối cảnh lạm phát và môi trường tiếp tục là các chủ đề chính được cử tri quan tâm, các đảng cực hữu được dự báo tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc định hình chính trị không chỉ ở cấp quốc gia, mà ở cấp độ châu Âu trong năm 2024 quan trọng này.

Để đối phó với sự nổi lên của các đảng cánh hữu, nhiều đảng phái chính thống và giới tinh hoa chính trị châu Âu đang áp dụng chiến lược hai mặt. Đó là một mặt áp dụng các chính sách cánh hữu về di cư và tích cực truyền đi “câu chuyện thành công của EU” bằng cách tập trung vào phản ứng của khối đối với cuộc khủng hoảng khí hậu, đại dịch Covid-19 và cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine. Tuy nhiên để biết hiệu quả của chính sách như thế nào và mức độ hội nhập của các đảng dân tuý và cực hữu tới đâu thì vẫn phải chờ kết quả cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu vào tháng 6 tới. Cuộc bầu cử sẽ giúp xác định ai sẽ nắm giữ các vị trí đứng đầu toàn khối, dẫn dắt Ủy ban châu Âu, Hội đồng châu Âu, Nghị viện châu Âu và từ đó tạo ra ảnh hưởng đối với các quyết sách của EU trong 5 năm tới.

CHÂU ÂU MỞ CUỘC ĐIỀU TRA CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ THÉP TRUNG QUỐC

Cuộc điều tra chống bán phá giá đối với các sản phẩm thép của Trung Quốc được tiến hành sau khi có khiếu nại từ Hiệp hội Thép châu Âu.

Ủy ban châu Âu vừa mở cuộc điều tra đối với các sản phẩm sắt hoặc thép cán phẳng, mạ hoặc tráng thiếc từ Trung Quốc để đánh giá liệu hàng nhập khẩu vào Liên minh châu Âu có được bán với giá quá thấp hay không.

Cuộc điều tra chống bán phá giá với các sản phẩm trên của Trung Quốc được tiến hành sau khi có khiếu nại từ Hiệp hội Thép châu Âu.

Một trong những cáo buộc chính của đơn khiếu nại là các nhà sản xuất Trung Quốc được hưởng lợi từ giá nguyên liệu thô, đặc biệt là sắt hoặc thép dẹt cán nóng vốn chiếm 60 - 70% chi phí sản xuất và chịu các hạn chế xuất khẩu của Trung Quốc.

Cơ quan này cho rằng, làn sóng nhập khẩu thép dẹt cán mỏng từ Trung Quốc đã gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với các nhà sản xuất cùng lĩnh vực ở EU.

Cuộc điều tra dự kiến sẽ kéo dài tới 14 tháng và EC có thể áp thuế tạm thời trong vòng 7 - 8 tháng.

Phản ứng trước động thái trên, Trung Quốc bày tỏ lo ngại rằng kết quả điều tra có thể ảnh hưởng đến ngành công nghiệp và xuất khẩu của Trung Quốc trong tương lai.

Cuộc điều tra trên là động thái mới nhất trong chuỗi điều tra thương mại và trợ cấp của EU đối với hàng xuất khẩu của Trung Quốc cũng như hoạt động của các công ty Trung Quốc ở châu Âu. Đáng chú ý nhất trong số này là cuộc điều tra chống trợ cấp đối với xe điện

SỰ PHÂN CỰC TRONG CHÍNH TRỊ SLOVAKIA SAU VỤ ÁM SÁT THỦ TƯỚNG

Vụ Thủ tướng Fico bị bắn không chỉ làm dấy lên lo ngại về tình trạng bạo lực, mà còn phơi bày những chia rẽ chính trị nghiêm trọng ở Slovakia.

Bộ trưởng Nội vụ Slovakia Matus Sutaj Estok ngày 16/5 cho biết nghi phạm 71 tuổi Juraj Cintula, người bắn ít nhất 4 viên đạn vào Thủ tướng Robert Fico ngày 15/5, đã thực hiện vụ ám sát vì "động cơ chính trị".

Bộ trưởng Estok mô tả Cintula là "sói đơn độc", không liên quan tới bất kỳ nhóm chính trị nào, nhưng có quan điểm chống chính phủ sâu sắc và đã tham gia nhiều cuộc biểu tình của phe đối lập.

Trong quá trình thẩm vấn, nghi phạm khai phản đối một số chính sách của Fico, như lời đe dọa ngừng viện trợ cho Ukraine, hạn chế tự do báo chí và động thái giải thể văn phòng công tố đặc biệt phụ trách điều tra tham nhũng.

Bộ trưởng Estok cho biết nghi phạm đã quyết định thực hiện vụ ám sát ngay sau cuộc bầu cử tổng thống, trong đó đồng minh thân cận của ông Fico kiêm lãnh đạo dân túy Peter Pellegrini chiến thắng cuộc đua thay thế Tổng thống Zuzana Caputova khi nhiệm kỳ của bà kết thúc tháng tới.

Ông Fico, từng là thủ tướng Slovakia trong nhiệm kỳ 2006-2010 và 2012-2018, trở lại nắm quyền vào năm ngoái, sau chiến dịch vận động tranh cử khoét sâu vào những rạn nứt liên quan tới xung đột Ukraine và nhập cư trong xã hội Slovakia. Kể từ đó, ông chống lại những chính sách của Liên minh châu Âu (EU) trong cả hai vấn đề này, trong khi tăng cường lập trường phản đối Mỹ và ủng hộ Nga.

"Đất nước này đang tồn tại mức độ phân cực chưa từng có. Tôi chưa bao giờ thấy bất kỳ điều gì giống như vậy", Daniel Milo, cựu quan chức chính phủ Slovakia phụ trách giám sát thông tin sai lệch, nói.

Theo ông Milo, tình trạng chia rẽ ở Slovakia gia tăng khi đại dịch Covid-19 bùng phát, khiến những tranh cãi nhỏ thành làn sóng thù địch lớn. Khoảng nửa dân số Slovakia ủng hộ vaccine, nhưng một nửa bác bỏ. Ông Fice cũng là một gương mặt nổi bật của phong trào chống khẩu trang và vaccine.

Milo cho hay sau khi Covid-19 lắng xuống, xung đột Ukraine lại nổi lên, trở thành nguồn gây chia rẽ khác trong xã hội Slovakia. "Tình hình hiện giờ chia làm hai: bạn ủng hộ hay chống lại? Bạn tin hay không tin?", ông nói.

Các mối đe dọa ở Slovakia ngày càng tăng trong bối cảnh chính trị căng thẳng đã khiến nhiều nhà chính trị và giới phân tích lo ngại. Tổng thống sắp mãn nhiệm Caputova đã từ chối tái tranh cử sau khi nhận được những lời đe dọa giết người. Sau khi Fico liên tục chỉ trích và gọi bà là con rối của Mỹ, Tổng thống Caputova đã đệ đơn kiện ông, nói rằng bà trở thành mục tiêu "bắt nạt công khai và cáo buộc vô lý".

Là nhà dân chủ xã hội nổi lên từ những năm 1990, ông Fico đã chuyển hướng sang phe cánh hữu sau cuộc khủng khoảng nhập cư của châu Âu năm 2015, cùng với Thủ tướng Hungary Viktor Orban đưa ra lập trường chính sách đối ngoại ngày càng thân Nga trong EU và NATO.

Ông Fico từ chức năm 2018, trước khi nhiệm kỳ thứ 3 kết thúc, sau nhiều cuộc biểu tình lớn bùng phát bởi vụ sát hại phóng viên chuyên đưa tin về cáo buộc tham nhũng Jan Kuciak và hôn thê của anh.

Không giống như Orban, Thủ tướng Fico đã cố gắng tránh xung đột hoàn toàn với EU hoặc Mỹ, lặng lẽ ủng hộ các lập trường đồng thuận trong EU và NATO về một số vấn đề, song lên tiếng phản đối trong những vấn đề khác.

Sự chia rẽ ngày càng tăng trong nhóm chục quốc gia khối hiệp ước Warsaw cũ gia nhập EU từ năm 2004 là điều khác biệt hoàn toàn so với những thập kỷ trước. Trong những năm đầu gia nhập khối, quyết định nộp đơn xin trở thành thành viên EU đã tạo ra sự đồng thuận rộng rãi về chính trị. Để tham gia EU, các nước phải đáp ứng yêu cầu của liên minh như thành lập cơ quan tư pháp độc lập và xây dựng thể chế chính trị toàn vẹn theo quy định pháp luật.

Bạo lực chính trị phần lớn không xuất hiện ở EU. Nhưng trong thập kỷ qua, sự đồng thuận rộng rãi đã suy giảm khi chính trị bắt đầu chia rẽ nhiều hơn. Cuộc khủng hoảng nhập cư năm 2015 được xem là ngòi nổ thổi bùng chia rẽ, bất hòa ở châu Âu.

Tại Slovakia, sau khi lên nắm quyền cuối năm ngoái, ông Fico đã thúc đẩy cuộc cải cách tư pháp gây tranh cãi để hạn chế các cuộc điều tra chống tham nhũng, cải tổ hệ thống phát thanh quốc gia để thanh lọc cái mà chính phủ gọi là "thiên vị về quyền tự do ngôn luận" và kiểm soát các tổ chức phi chính phủ do nước ngoài tài trợ. Ông cũng phản đối viện trợ quân sự cho Ukraine, quyền LGBTQ, củng cố sức mạnh của EU, song ủng hộ quan hệ ngày càng gần gũi với Nga.

Điều này đã gây tranh cãi và mâu thuẫn sâu sắc trong xã hội Slovakia, đất nước đã trải qua nhiều năm cải cách nền chính trị theo mô hình của EU.

"Chúng ta đang ở ngưỡng cửa của cuộc nội chiến. Vụ ám sát Thủ tướng là minh chứng cho điều đó. Nhiều người trong số các bạn đang gieo rắc hận thù và nó đã biến thành cơn bão", Bộ trưởng Estok nói.

Các quan chức cấp cao trong đảng Smer cầm quyền của ông Fico cáo buộc những nhà báo tự do và chính trị gia đối lập thúc đẩy nghi phạm nổ súng, nhưng không đưa ra bất cứ bằng chứng nào.

Lubos Blaha, phó chủ tịch đảng, cho biết phe đối lập và truyền thông tự do đã đẩy Thủ tướng vào nguy hiểm bằng cách "gieo rắc quá nhiều hận thù". Rudolf Huliak, đồng minh của chính phủ thuộc đảng cực hữu Quốc gia Slovakia, nói những người cấp tiến và nhà báo "đều phải chịu trách nhiệm" về vụ Thủ tướng bị bắn.

Pavol Hardos, nhà khoa học chính trị tại Đại học Comenius ở thủ đô Bratislava, cho rằng những cáo buộc như vậy là một phần trong chiến dịch lâu dài của chính quyền ông Fico nhằm tấn công các đối thủ chính trị. Trước khi bị ám sát, ông Fico từng chỉ trích một lãnh đạo đối lập là "tồi tệ như chuột".

Nhiều người chỉ trích đã cáo buộc chính quyền ông Fico đang tạo nền tảng cho bạo lực bằng cách gia tăng căng thẳng trong nước. Jana Solivarska, cư dân ở thị trấn Banska Stiavnica, tỏ ra không quá ngạc nhiên khi Thủ tướng Fico bị bắn, bởi Slovakia hiện là quốc gia chia rẽ nghiêm trọng và có thể thúc đẩy những kẻ cực đoan có hành động cực đoan.

Giống như ở Slovakia, chia rẽ xã hội ở nhiều nơi trong châu Âu đã dẫn tới bạo lực. Như tại Đức, ứng viên xã hội chủ nghĩa hàng đầu Matthias Ecke đã bị tấn công trong khi dán áp phích chiến dịch tranh cử ở Dresden hồi đầu tháng này.

"Thật không may khi những cuộc tấn công như vậy không phải mới. Điều đáng lo ngại là cường độ của các cuộc tấn công đang gia tăng", Bộ trưởng Nội vụ Đức Armin Schuster nói.

Peter Kellner, nhà nghiên cứu tại tổ chức Quỹ Carnegie vì Hòa bình quốc tế, nói rằng châu Âu những năm gần đây trở thành môi trường chính trị đầy chia rẽ, điều có thể kích động các hành vi bạo lực cá nhân.

"Khi đắm mình vào bầu không khí chia rẽ và cực đoan, một số người sẽ làm những chuyện thực sự khủng khiếp", Keller nói.

Nguồn: Khoa học & Phát triển; Người Đưa Tin; VOV; CafeBiz; Vnexpress

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Việt Nam

Người Việt hải ngoại

EU

Thế giới

Lên đầu trang