.jpg)
BUỒN CỦA CHÂU ÂU: NỖI LO THÀNH ‘CÔNG XƯỞNG’ CỦA TRUNG QUỐC
Theo một nghiên cứu mới công bố, châu Âu có nguy cơ trở thành “nhà máy lắp ráp” cho các nhà sản xuất pin Trung Quốc.
Transport & Environment, nhóm vận động vì môi trường, cảnh báo rằng mối quan hệ đối tác hiện tại giữa các nhà sản xuất pin Trung Quốc và các công ty ô tô của châu Âu đang quá tập trung vào việc đảm bảo nguồn cung pin ngắn hạn, nhưng không có khuôn khổ pháp lý để chia sẻ kiến thức, dẫn đến rủi ro địa chính trị và an ninh trong tương lai.
Julia Poliscanova, giám đốc cấp cao tại T&E, cho biết: “Châu Âu có thể mất thêm 10 hoặc 15 năm nữa để thử và thất bại với các công ty Northvolt. Hoặc châu Âu có thể hưởng lợi từ nơi có chuyên môn và tận dụng điều đó để bắt kịp nhanh chóng như Trung Quốc đã làm trong 20 năm qua.”
Lời cảnh báo của T&E được đưa ra trong bối cảnh châu Âu đang nỗ lực xây dựng lại chiến lược để giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc. Châu Âu sẽ xây dựng chuỗi cung ứng trong khu vực, song tham vọng của họ đã bị ảnh hưởng khi Northvolt - niềm hy vọng lớn nhất trong ngành pin của châu Âu, đã sụp đổ.
Để giải quyết sự thiếu hụt, nhiều nhà sản xuất ô tô của châu Âu đang hợp tác với các nhà sản xuất pin Trung Quốc để đảm bảo nguồn cung cấp pin cho xu hướng sử dụng xe điện, nhằm đáp ứng các quy định khắt khe hơn về khí thải.
Vào tháng 12, Stellantis cho biết công ty sẽ xây dựng một nhà máy sản xuất pin lithium trị giá 4,1 tỷ USD tại Tây Ban Nha với CATL của Trung Quốc. Theo chính phủ Tây Ban Nha, dự náy đã nhận được gần 300 triệu euro tiền hỗ trợ từ nhà nước. Tuy nhiên, thoả thuận này không có điều kiện về chuyển giao công nghệ và kỹ năng.
Volkswagen cũng đang hợp tác với Gotion High-tech của Trung Quốc để vận hành nhà máy pin tại Salzgitter. Nhà sản xuất ô tô của Đức đã trở thành cổ đông lớn nhất của Gotion khi công ty con tại Trung Quốc đầu tư 1,1 tỷ euro vào năm 2020, nhưng lại có rất ít quyền sở hữu trí tuệ hay chuyển giao công nghệ, theo T&E.
Poliscanova chỉ ra, nếu châu Âu không đưa ra thêm yêu cầu thì châu lục này cũng không học hỏi thêm được gì và sẽ chỉ là một nhà máy lắp ráp.
Theo T&E, hơn 90% xe điện và pin đang được sản xuất bởi các công ty Hàn Quốc và Trung Quốc, trong khi 40% các gigafactory đều được vận hành bởi cùng một công ty châu Á.
Các nhà sản xuất ô tô Mỹ hợp tác với các hãng pin của Hàn Quốc. Ford cũng có quan hệ đối tác với CATL và đã thành lập một liên doanh với SK. General Motors hợp tác với Samsung SDI. Trong trường hợp họ hợp tác với các hãng Trung Quốc như BYD, Washington đưa ra quy định về chuyển giao kỹ năng và kiểm soát các mối quan hệ hợp tác.
Hiện tại, Brussels muốn các công ty Trung Quốc chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho các doanh nghiệp châu Âu để nhận trợ cấp từ EU và đang xem xét lại các quy định hiện có. Tuy nhiên, các quy định được xem xét lại ở quy mô nhỏ hơn nhiều so với ở Mỹ.
Lời cảnh báo được đưa ra ở đúng thời điểm các công ty châu Âu đang nỗ lực bắt kịp các công ty châu Á, song lại phải đối mặt với nhu cầu về xe điện tăng chậm lại và tình trạng thiếu vốn.
Yann Vincent, giám đốc điều hành của công ty sản xuất pin Pháp Automotive Cells Company, cho biết liên doanh được Stellantis, Mercedes-Benz và TotalEnergies hậu thuẫn gần đây đã tạm dừng kế hoạch mở rộng hoạt động sản xuất từ cơ sở Dunkirk sang các nhà máy ở Đức và Ý do thị trường xe điện chậm lại.
Do đó, khoản tài trợ dự án 4 tỷ euro đã không còn. Thay vào đó, công ty đồng ý nhận khoản vay ngân hàng 845 triệu euro do Mercedes và Stellantis bảo lãnh để tiếp tục phát triển cơ sở tại Dunkirk.
Các công ty Trung Quốc tiên phong trong lĩnh vực này đã đi trước rất xa. Trong khi đó, Northvolt và các công ty châu Âu khác cho đến nay chỉ tập trung vào pin niken-mangan-coban, loại pin đắt tiền nhưng ít phải sạc hơn.
Theo Marc Alochet, cựu kỹ sư ngành ô tô và nhà nghiên cứu tại École Polytechnique của Pháp, một thách thức lớn khác đối với các công ty châu Âu là sản xuất pin ở quy mô lớn. Ông ủng hộ việc đưa ra quy định chuyển giao kỹ năng trên toàn bộ "chuỗi giá trị" phát triển pin, chỉ ra rằng Trung Quốc đã yêu cầu chuyển giao từ các nhà sản xuất ô tô châu Âu sản xuất tại nước này vào đầu thế kỷ.
KẾ HOẠCH MỚI VỚI LNG
Kế hoạch mới sẽ đánh dấu một sự thay đổi lớn trong chính sách năng lượng của EU, củng cố mối liên kết của châu lục này với LNG.
Liên minh châu Âu (EU) đang cân nhắc hỗ trợ đầu tư vào cơ sở hạ tầng khí đốt hóa lỏng (LNG) ở nước ngoài và chuyển sang các hợp đồng dài hạn để cắt giảm giá năng lượng cao đang gây tổn hại đến các ngành công nghiệp châu Âu, Politico đưa tin hôm 18/2, dẫn một đề xuất mà hãng truyền thông này được tiếp cận.
Theo Politico, động thái này sẽ đánh dấu một sự thay đổi lớn trong chính sách năng lượng của EU, củng cố mối liên kết của châu lục này với LNG, một loại nhiên liệu hóa thạch mà họ muốn loại bỏ.
Hiện tại, EU chỉ ký các hợp đồng LNG ngắn hạn và đã nỗ lực hạn chế việc sử dụng tiền công để mở rộng khai thác nhiên liệu hóa thạch.
Đáng chú ý, kế hoạch này cũng nêu ra triển vọng rằng các quỹ của chính phủ châu Âu có thể giúp tài trợ cho các dự án LNG của Mỹ trong bối cảnh Brussels đang cố gắng đạt được một thỏa thuận với Tổng thống Donald Trump để mua thêm năng lượng từ Mỹ và tránh một cuộc chiến thương mại.
Đề xuất này là một phần của kế hoạch hành động sắp tới nhằm mang tới năng lượng giá cả phải chăng cho người châu Âu, dự kiến sẽ được công bố vào ngày 26/2, Politico cho biết.
Bản dự thảo cho thấy EU cũng muốn có luật mới để đẩy nhanh việc nâng cấp lưới điện và sẽ khuyến khích giảm thuế điện và cấp phép nhanh chóng cho các công nghệ hạt nhân mới nổi.
Các dịch vụ này là một phần cốt lõi trong phản ứng của Brussels đối với các khiếu nại của ngành công nghiệp rằng chi phí năng lượng tăng cao khiến họ tụt hậu so với các đối thủ cạnh tranh ở Mỹ và Trung Quốc.
Tài liệu cho biết, kế hoạch này sẽ "giảm hóa đơn năng lượng trong ngắn hạn, đồng thời đẩy nhanh các cải cách cơ cấu tiết kiệm chi phí rất cần thiết và củng cố hệ thống năng lượng của chúng ta để giảm thiểu các cú sốc giá trong tương lai".
Các đề xuất về các dự án LNG có thể được EU hỗ trợ có thể làm dấy lên lo ngại rằng các nỗ lực cứu vãn nền kinh tế trì trệ của châu lục này đang được ưu tiên hơn cuộc chiến chống biến đổi khí hậu.
Trên tờ Financial Times, CEO của TotalEnergies, Patrick Pouyanné, cho biết ông sẵn lòng giúp bán thêm LNG Mỹ cho châu Âu, nhưng thúc giục EU tìm kiếm một thỏa thuận LNG dài hạn để đảm bảo an ninh năng lượng.
Ông Pouyanné cho biết một thỏa thuận đảm bảo chế độ cấp phép thuận lợi hơn cho các công ty xuất khẩu năng lượng vào EU sẽ đáp ứng mong muốn của ông Trump về việc khối này mua thêm dầu và khí đốt của Mỹ, đồng thời bảo vệ châu Âu khỏi tình trạng tăng giá trong tương lai.
Người đứng đầu TotalEnergies, nhà xuất khẩu năng lượng lớn nhất "xứ cờ hoa", cho biết điều này sẽ đảm bảo an ninh nguồn cung từ Mỹ và giúp châu Âu "cai nghiện" khí đốt Nga.
Brussels đã cử các đặc phái viên đến Washington để đàm phán và mong muốn đạt được một thỏa thuận LNG. Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen đã quảng cáo đây là cách để khối này cuối cùng có thể từ bỏ hoàn toàn LNG của Nga.
EU KHỦNG HOẢNG NIỀM TIN KHI TRUMP TRỞ LẠI
.jpg)
Chỉ sau 4 tuần trở lại Nhà Trắng, Tổng thống Trump đã gây ra nhiều cú sốc cho đồng minh châu Âu, khiến niềm tin về liên minh xuyên Đại Tây Dương lung lay.
Triển vọng về chấm dứt xung đột Ukraine đang trở nên rõ ràng hơn sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump trở lại Nhà Trắng tháng trước. Ông đã thúc đẩy các cuộc thảo luận với Nga về xung đột, điện đàm trực tiếp với Tổng thống Vladimir Putin và tuyên bố quá trình đàm phán chấm dứt xung đột Ukraine sẽ "bắt đầu ngay lập tức".
Tuy nhiên, nỗ lực chấm dứt xung đột của Tổng thống Trump đã đẩy các đồng minh châu Âu đến bờ vực khủng hoảng. Các lãnh đạo châu Âu giờ đây đối mặt với thực tế là họ đang bị gạt khỏi tiến trình đàm phán hòa bình Ukraine, nguy cơ chiến thương mại với Mỹ, cũng như yêu cầu của Washington về việc có thể điều động bao nhiêu quân tới Ukraine để gìn giữ hòa bình sau lệnh ngừng bắn.
Tổng thống Trump không phải người xa lạ với nhiều lãnh đạo châu Âu, khi họ từng làm việc với ông trong 4 năm nhiệm kỳ đầu. Tuy nhiên, nhiều nhà hoạch định chính sách cho biết họ thấy nhiệm kỳ lần này của ông Trump rất khác.
"Trước khi ông Trump nhậm chức, quan điểm của chúng tôi lạc quan hơn. Nhưng những diễn biến mới trong vài ngày qua khiến chúng tôi có thêm chút bi quan", Tổng thống Phần Lan Alexander Stubb nói.
Jeffrey Rathke, cựu nhà ngoại giao Mỹ và hiện là chủ tịch Viện Mỹ - Đức thuộc Đại học Johns Hopkins, nhận định nhiều người châu Âu đang "lo lắng, thất vọng và thậm chí thấy báo động" với những gì đang diễn ra.
Những chuyến thăm và phát biểu của quan chức Mỹ ở châu Âu tuần qua đã khiến nhiều lãnh đạo của lục địa này nhận ra họ đang bước vào địa vực mới, nơi châu Âu khó có thể tiếp tục phụ thuộc vào chiếc ô an ninh của Mỹ.
Sau cuộc họp trực tiếp đầu tiên với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth kể từ khi ông nhậm chức, giới chức châu Âu hiểu rằng hàng chục nghìn binh sĩ Mỹ sẽ được rút khỏi châu Âu, vấn đề chỉ là bao nhiêu và trong bao lâu.
Họ cũng lo ngại trong các cuộc đàm phán trực tiếp với Tổng thống Putin, ông Trump sẽ đồng ý với các điều khoản có thể giúp Nga tiếp tục kiểm soát 20% lãnh thổ Ukraine, điều mà Kiev từng coi là "không thể chấp nhận". Họ tin mục tiêu cuối cùng của ông Putin là phá vỡ liên minh xuyên Đại Tây Dương giữa châu Âu và Mỹ.
Những lo ngại đó đã phủ bóng Hội nghị An ninh Munich ở Đức cuối tuần qua, khi Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky tuyên bố "Kiev sẽ không bao giờ chấp nhận những thỏa thuận được thực hiện sau lưng chúng tôi".
Ông sau đó kêu gọi thành lập "đội quân châu Âu", gồm cả lực lượng Ukraine giàu kinh nghiệm chiến đấu. Giới quan sát cho rằng về bản chất, lãnh đạo Ukraine đang thúc đẩy giải pháp quân sự thay thế NATO, một lực lượng có thể tự ra quyết định mà không bị ảnh hưởng hay kiểm soát bởi Mỹ. Tuy nhiên, ý tưởng này đã bị một số nước châu Âu kịch liệt phản đối.
Ông Zelensky cũng đề cập đến cuộc đàm phán căng thẳng với quan chức chính quyền Trump ở Munich, sau khi ông gặp Phó tổng thống Mỹ JD Vance. Ông phàn nàn đề xuất của Washington không có những đảm bảo an ninh cần thiết cho Kiev nếu Moskva phát động cuộc chiến lần nữa.
Nỗi bất an với Mỹ sau Hội nghị An ninh Munich lớn đến mức Tổng thống Pháp Emmanuel Macron ngày 17/2 mời lãnh đạo 6 nước Tây Âu trong Liên minh châu Âu (EU), Anh và các quan chức NATO cùng EU đến Paris họp thượng đỉnh khẩn cấp về tình hình Ukraine và an ninh lục địa.
Sau cuộc họp thượng đỉnh, các quan chức EU cho hay châu Âu sẵn sàng cung cấp các đảm bảo an ninh cho Ukraine, nhưng "với phương thức sẽ được từng bên xem xét, tùy thuộc cả vào mức độ hỗ trợ của Mỹ", cho thấy khối chưa đạt được sự đồng thuận về ý tưởng triển khai quân đến Ukraine.
Những người ủng hộ quan hệ đối tác lâu đời xuyên Đại Tây Dương nói rằng Mỹ từng giúp tái thiết châu Âu sau Thế chiến II và thúc đẩy hợp tác kinh tế với EU, nhưng quan hệ song phương giờ đây đối mặt khủng hoảng lớn hơn bao giờ hết.
"Trong một thế kỷ qua, Mỹ đóng vai trò lãnh đạo, dẫn dắt mọi người tới ổn định. Nhưng điều đó giờ đây không chỉ biến mất mà còn đang đi theo hướng ngược lại. Chúng tôi đang trở thành nguồn gốc của bất ổn và lo ngại, ngay cả với các đồng minh ở châu Âu", thượng nghị sĩ Mỹ Andy Kim, thành viên đảng Dân chủ, nói.
Người châu Âu bị sốc khi ông Trump và cấp phó Vance công kích các trụ cột an ninh lục địa và nỗ lực đạt thỏa thuận với Nga. Cuộc điện đàm một tiếng rưỡi với ông Putin của ông Trump cũng được tiến hành mà không tham vấn trước với Ukraine hay các đồng minh châu Âu.
Khi ông Vance phát biểu trước Hội nghị An ninh Munich, nhiều người tham dự đã kỳ vọng được nghe kế hoạch cụ thể của Mỹ về chấm dứt chiến sự Ukraine, nhưng thay vào đó, Phó tổng thống Mỹ lại chỉ trích châu Âu và cảnh báo nguy cơ lớn nhất với an ninh châu lục "đến từ chính bên trong".
Ông Vance cũng đã gặp lãnh đạo đảng cực hữu Sự lựa chọn vì nước Đức (AfD) Alice Weidel, trở thành quan chức cấp cao nhất của Mỹ từng làm như vậy.
Động thái của ông Vance đã gây ra làn sóng bất bình ở châu Âu. Người đứng đầu chính sách đối ngoại của EU Kaja Kallas ngày 14/2 cho biết ông Vance đang cố "khiêu chiến với chúng tôi, nhưng chúng tôi không muốn đánh nhau với bạn bè của mình".
"Giá trị của cái bắt tay với Mỹ là gì? Mọi người giờ không nghĩ họ có thể tin tưởng vào nó ngay cả khi họ đạt thỏa thuận", nghị sĩ Kim nói.
Tháng 7 năm ngoái, các đồng minh NATO đã tập trung tại Mỹ để kỷ niệm 75 năm thành lập liên minh quân sự lớn nhất thế giới. Dù các quan chức châu Âu lúc đó hiểu rằng liên minh sẽ đối mặt nhiều căng thẳng nếu ông Trump tái đắc cử, họ vẫn choáng váng với những gì đang diễn ra.
"Trong các bài phát biểu đầu tiên của cựu bộ trưởng quốc phòng James Mattis hay cựu phó tổng thống Mike Pence năm 2017, họ đã cố trấn an và thảo luận những gì đồng minh có thể làm cùng nhau. Nhưng khi nghe những gì ông Hegseth và Vance phát biểu, cảm giác mục tiêu của họ là gây chia rẽ", thượng nghị sĩ Dân chủ Jeanne Shaheen nói.
Tổng thống Zelensky cũng đề cập tới những thay đổi trong thái độ của chính quyền ông Trump. "Vài ngày trước, Tổng thống Trump đã nói với tôi về cuộc điện đàm với ông Putin. Nhưng ông ấy không lần nào đề cập đến việc Mỹ cần châu Âu tham gia. Điều đó nói lên nhiều rất nhiều điều. Những ngày Mỹ ủng hộ châu Âu đã qua", ông nói.
"Đã đến lúc phải tự chịu trách nhiệm và bảo vệ an ninh của chúng ta", Bộ trưởng Các vấn đề châu Âu của Pháp Benjamin Haddad nói.
Vấn đề hiện tại với châu Âu là liệu họ có thể vượt qua thách thức an ninh lớn nhất trong nhiều thập kỷ này hay không. Họ sẽ phải đối mặt việc phải tăng ngân sách quốc phòng ngay lập tức, tạo ra sự đồng thuận chính trị mới, sẵn sàng chấp nhận mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương từ năm 1945 có thể bị phá vỡ mà không thể cứu vãn.
"Câu hỏi quan trọng đối với mọi người là chúng ta có thể tin tưởng Mỹ nữa không? Bây giờ mọi người đã bắt đầu nhìn nhận nghiêm túc. Lời cảnh tỉnh tiếp theo cho châu Âu có thể là còi báo động không kích", Nico Lange, cựu quan chức quốc phòng Đức và hiện là thành viên cấp cao Hội nghị An ninh Munich, nói.
RẠN NỨT VỚI MỸ LỚN TỚI MỨC NÀO?
Rạn nứt giữa Mỹ và EU thậm chí “lớn hơn tưởng tượng trước đây” — chuyên gia người Ý Tiberio Graziani nói với TASS.
Mỹ đã nói rõ tại Hội nghị Munich rằng họ không còn muốn đóng vai trò là anh cả của châu Âu, xa lánh mọi vai trò lãnh đạo trên lục địa này, ông Tiberio Graziani, Chủ tịch Viện Phân tích Toàn cầu Quốc tế, Tầm nhìn & Xu hướng Toàn cho biết.
Theo quan điểm của ông, diễn đàn Munich đã nêu bật những mâu thuẫn cố hữu trong chính sách xuyên Đại Tây Dương, cũng như những điểm yếu của EU và các quốc gia thành viên.
Ông cho rằng các thành viên EU hàng đầu có lập trường chống Nga tiếp tục lặp lại những câu sáo rỗng về việc tăng cường phòng thủ châu Âu và thành lập một đội quân thống nhất. Trên thực tế, châu Âu đang trong tình trạng tồi tệ, cả về sự gắn kết chính trị và tăng trưởng kinh tế công nghiệp.
Tân Phó Tổng thống Mỹ JD Vance đã sử dụng diễn đàn Munich để nhấn mạnh Mỹ không còn coi trọng vai trò lãnh đạo của mình tại châu Âu nữa, vì điều này không phù hợp với các ưu tiên của Mỹ. Theo nghĩa nào đó, đây có thể là 'một lời cầu nguyện tưởng niệm' cho EU tại hội nghị này.
Ông lưu ý thêm rằng cuộc họp "rút gọn" tại Paris, do Tổng thống Pháp Emmanuel Macron triệu tập với sự tham gia của một số lượng hạn chế các nhà lãnh đạo châu Âu, chỉ nhấn mạnh thêm cuộc khủng hoảng và chia rẽ ngày càng sâu sắc không chỉ trong quan hệ EU-Mỹ mà còn trong chính EU.
"Giới lãnh đạo Pháp khó có thể tạo ra đủ ảnh hưởng để hòa giải, chứ đừng nói đến việc đảm bảo việc cùng tồn tại giữa các thành viên EU chia rẽ như vậy", ông Graziani nói thêm.
Aldo Ferrari, giám đốc Khoa Nghiên cứu Nga, Kavkaz và Trung Á tại Viện Nghiên cứu Chính trị Quốc tế Ý (ISPI) và là giáo sư về lịch sử Á-Âu tại Đại học Ca' Foscari ở Venice, tin rằng rạn nứt giữa Mỹ do ông Donald Trump lãnh đạo và EU "thậm chí còn lớn hơn những gì từng hình dung trước đây".
Theo ông Ferrari, đối với người châu Âu, tình hình này đặt ra một tình thế tiến thoái lưỡng nan: một mặt, nó đặt ra một thách thức đáng kể; mặt khác, nó mang đến cơ hội cho sự thống nhất chính trị và quân sự thực sự.
“Cho đến nay, châu Âu vẫn phụ thuộc rất nhiều vào Mỹ với giả định điều đó phù hợp lợi ích của. Tuy nhiên, một sự chia rẽ chưa từng có đã xuất hiện", nhà phân tích nhận xét.
Theo quan điểm của ông, châu Âu phải đối mặt với một quyết định quan trọng: hoặc chấp nhận chính quyền mới của Washington vốn hoàn toàn khác biệt và có phần đối đầu với chính quyền tiền nhiệm, hoặc nỗ lực củng cố quyền tự chủ của EU khỏi Mỹ và chủ động bảo vệ lợi ích của chính mình.
KHẢ NĂNG TỰ PHÒNG VỆ KHI KHÔNG CÓ MỸ?
.jpg)
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth tuyên bố các nước châu Âu phải gánh phần lớn chi phí bảo vệ Ukraine trước cuộc xâm lược của Nga trong chuyến công du quốc tế đầu tiên kể từ khi nhậm chức – nhưng điều đó có ý nghĩa gì đối với châu Âu?
Nhận định của Hegseth được đưa ra trong bối cảnh các phái đoàn Nga và Mỹ đang đàm phán tại Ả Rập Xê Út, cho thấy chiến lược của Trump trong việc chấm dứt chiến tranh ở Ukraine có thể như thế nào.
Viễn cảnh châu Âu ngày càng phải tự chịu trách nhiệm về an ninh của mình cũng được Phó Tổng thống Mỹ JD Vance nhắc lại tại Hội nghị An ninh Munich vào thứ Sáu 14/2, khi ông nhấn mạnh rằng châu Âu phải "nỗ lực mạnh mẽ để tự bảo vệ mình".
Sự thay đổi đáng kể này trong lập trường của Mỹ đã khiến các nhà lãnh đạo châu Âu lo ngại, dẫn đến một cuộc họp khẩn cấp tại Paris vào ngày 17/2 để thảo luận về cuộc xung đột và an ninh của châu lục.
Điều đó đặt ra câu hỏi: Châu Âu phụ thuộc vào Mỹ đến mức nào về an ninh, và liệu châu Âu có thể tự đứng vững hay không?
Tại sao Mỹ liên minh với châu Âu ngay từ đầu?
NATO (Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương) được thành lập năm 1949 với mục tiêu chính là ngăn chặn sự mở rộng của Liên Xô tại châu Âu.
Mỹ coi một châu Âu mạnh cả về kinh tế và quân sự là yếu tố quan trọng để ngăn chặn sự bành trướng này, do đó đã cung cấp viện trợ quy mô lớn để giúp các nước châu Âu tái thiết sau sự tàn phá của Thế chiến II.
Hiện nay, NATO có 32 thành viên, bao gồm nhiều quốc gia Đông Âu, và các nước thành viên cam kết rằng nếu một quốc gia bị tấn công, các nước khác sẽ hỗ trợ bảo vệ.
Tuy nhiên, sau diễn biến tuần này, cơ cấu an ninh châu Âu thời hậu Thế chiến II đang bị đe dọa. Mỹ vẫn là thành viên NATO, nhưng các nhà lãnh đạo châu Âu lo ngại rằng họ không còn có thể tin tưởng Mỹ sẽ giúp đỡ khi cần thiết.
Các nước châu Âu chi bao nhiêu cho ngân sách quốc phòng?
Liên minh NATO hiện yêu cầu các nước thành viên chi ít nhất 2% tổng GDP cho quốc phòng.
Theo ước tính của NATO năm 2024, Ba Lan là quốc gia có mức chi tiêu quốc phòng cao nhất trong hai năm liên tiếp, dành 4,1% GDP. Estonia đứng thứ hai với 3,4%, ngang bằng với Mỹ (3,4%), mức chi tiêu duy trì ổn định trong thập kỷ qua.
Anh xếp thứ chín với 2,3%, và Ngoại trưởng Anh David Lammy khẳng định nước này "hoàn toàn" cam kết nâng mức chi lên 2,5%, với một lộ trình cụ thể sẽ được công bố trong vài tháng tới.
Mức trung bình của các nước NATO tại châu Âu và Canada hiện là 2%.
Camille Grand, cựu Trợ lý Tổng thư ký NATO phụ trách đầu tư quốc phòng, nói với BBC rằng yêu cầu của Mỹ về việc châu Âu tăng chi tiêu quốc phòng không có gì bất ngờ.
"Các nước châu Âu đã chi tiêu dưới mức cần thiết trong nhiều thập kỷ, và giờ họ phải trả giá," ông nói.
"Đây là một yêu cầu hợp lý từ phía Mỹ – tại sao các quốc gia giàu có lại không chi tiêu nhiều hơn?"
Liệu thành lập một 'Quân đội châu Âu' có khả thi?
Trước nguy cơ Mỹ rút viện trợ, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky đã kêu gọi thành lập một "Quân đội châu Âu".
"Hãy thành thật. Giờ đây, chúng ta không thể loại trừ khả năng Mỹ có thể từ chối giúp đỡ châu Âu trong một vấn đề đe dọa họ," ông nói vào ngày 15/2.
"Nhiều nhà lãnh đạo đã nói về một châu Âu cần có quân đội riêng – một quân đội của châu Âu."
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron từ lâu đã ủng hộ việc Liên minh châu Âu (EU) có quân đội riêng để giảm sự phụ thuộc vào Mỹ, nhưng ý tưởng này nhanh chóng bị bác bỏ bởi Đại diện cấp cao của EU về Chính sách Đối ngoại, Kaja Kallas.
Giáo sư Richard Whitman, chuyên gia về Chính trị và Quan hệ Quốc tế tại Đại học Kent, nhận định với BBC rằng dù các nước NATO châu Âu có đủ tiềm lực tài chính để xây dựng một lực lượng phòng thủ đáng kể, nhưng thách thức lớn nhất là tổ chức lực lượng này.
"Vấn đề ở đây là làm sao để các hệ thống có thể phối hợp với nhau, làm thế nào để đồng bộ hóa các hệ thống vệ tinh, cảm biến và các công nghệ quốc phòng," ông nói.
Giáo sư Amelia Hadfield, Giám đốc sáng lập Trung tâm Anh và châu Âu tại Đại học Surrey, cho rằng khả năng một "Quân đội châu Âu" có thể tự bảo vệ trước một cường quốc như Nga là "hoàn toàn không khả thi".
"Châu Âu, đặc biệt là NATO, có khả năng phối hợp rất tốt – với trình độ cao, nhiều đợt huấn luyện bài bản," bà nói.
"Nhưng yêu cầu họ can thiệp sau ba năm đứng ngoài cuộc vào một cuộc khủng hoảng nóng, sẵn sàng hành động và đảm bảo không thiếu hụt khí tài, nhân lực cũng như khả năng phối hợp – những yếu tố cần thiết để trở thành một lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế hiệu quả."
Kể từ khi NATO thành lập, các chiến dịch quân sự của tổ chức này luôn do tổng tư lệnh Đồng minh Tối cao châu Âu (SACEUR) – một vị trí từ trước đến nay luôn được nắm giữ bởi một sĩ quan quân đội Mỹ. Điều này mang lại cho Mỹ nhiều kinh nghiệm thực chiến, điều mà các tướng lĩnh châu Âu không có.
Các tướng lĩnh ở châu Âu không có trình độ chuyên môn này, Giáo sư Whitman nhận định, để lại một khoảng trống tiềm tàng lớn cho một 'Quân đội châu Âu'.
Ngoài ra còn có vấn đề về lỗ hổng chính trị do Mỹ để lại.
"Điều mà Mỹ mang lại không chỉ là một loại biện pháp dự phòng, Mỹ có tất cả những thứ mà Mỹ thực sự cần để chiến đấu, mà còn mang lại thẩm quyền chính trị để làm vậy, và [các nước châu Âu] thực sự không có cơ cấu chính trị tương đương [ở Châu Âu] để thực hiện điều đó một cách thẳng thắn, hoặc để thực hiện điều đó theo tập thể", ông Whitman nói thêm.
Điều đó có thể dẫn đến một cuộc đấu tranh quyền lực và một câu hỏi về việc ai sẽ lãnh đạo chiến lược quốc phòng của Châu Âu.
Pháp và Anh, với tư cách là hai cường quốc an ninh hàng đầu châu Âu, có thể đứng ra dẫn đầu, theo Giáo sư Hadfield. Nhưng họ sẽ cần thống nhất về cách chia sẻ gánh nặng chi tiêu quốc phòng giữa các quốc gia và ai sẽ là người gánh nhiều nhất.
Một yếu tố quan trọng khác là ''thời gian''.
"Xây dựng và phóng vệ tinh nhanh đến đâu?" Giáo sư Whitman đặt câu hỏi.
"Không phải ngày hay tuần, mà là nhiều năm."
Điều này đặt ra câu hỏi: một "Quân đội châu Âu" có thể giải quyết cuộc khủng hoảng Ukraine ngay lập tức không?
"Tôi không thấy thuyết phục bởi ý tưởng này," ông Grand nói với BBC.
Những thách thức lớn nhất của châu Âu sẽ là "quy mô và mức độ sẵn sàng" – không chỉ là số lượng quân mà còn là sự chuẩn bị cho chiến đấu ngay lập tức – cùng với công nghệ tiên tiến như tiếp nhiên liệu trên không, máy bay không người lái và tên lửa tầm xa.
Tương lai của châu Âu sẽ ra sao?
Những lỗ hổng trong năng lực quân sự của châu Âu khiến nhiều người lo ngại về khả năng Mỹ chấm dứt cam kết an ninh.
"Thật khó để hình dung châu Âu có thể tự bảo đảm an ninh mà không có Mỹ," Giáo sư Whitman nói.
Các nước châu Âu sẽ cần tăng mạnh chi tiêu quốc phòng để xây dựng một quân đội chung bền vững, theo ông Grand.
Câu hỏi đặt ra là: liệu Nga có làm phép thử đối với cam kết của Mỹ để hướng sự tập trung của nước này qua nơi khác hay không?
Giáo sư Hadfield cho biết: "Thật đáng buồn khi nói rằng mọi người đã quen với ý tưởng rằng Ukraine sẽ bị xé nát và chúng ta sẽ phải xây dựng lại đất nước, nhưng họ vẫn chưa quen với ý tưởng [Nga] sẽ tấn công Thụy Điển hoặc Ba Lan hoặc thậm chí là Anh, và đó là một loại xung đột hoàn toàn khác".
"NATO sẽ phải rất nhanh chóng xác định họ là ai nếu thiếu đi thành viên sáng lập," Giáo sư Hadfield cảnh báo.
Nguồn: CafeF; Người Đưa Tin; Vnexpress; Soha; BBC
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá