EU: Khủng hoảng khí hậu; Chặn cơn khát năng lượng; Cảng biển thất thu; 'Đuối' cuộc chiến dầu mỏ; Gói trừng phạt 11 vào Nga

Lũ lụt nghiêm trọng tại Italia: Khủng hoảng khí hậu đã tới châu Âu?

(Ảnh minh họa).

Lũ lụt trong tuần qua là thảm họa thời tiết mới nhất tấn công Italia và các nhà hoạch định chính sách cuối cùng cũng bắt đầu có những động thái ứng phó với thảm họa.

Theo tờ The Guardian, tuần qua, một phần của vùng Emilia-Romagna ở miền Bắc Italia đã hứng chịu lượng mưa tương đương mức trung bình 6 tháng chỉ trong 36 giờ. Nước sông tràn bờ và hàng ngàn mẫu đất nông nghiệp bị nhấn chìm. Ước tính có khoảng 36.000 người mất nhà cửa và 14 người được xác nhận đã chết.

Đây chỉ là thảm họa thời tiết mới nhất tấn công Italia. 6 tháng trước, 12 người đã thiệt mạng trên hòn đảo Ischia ở miền Nam nước này trong một trận lở đất do mưa lớn. Tháng 9 năm ngoái, 11 người khác đã thiệt mạng do lũ quét ở Marche thuộc miền Trung nước này.

Tháng 7 năm ngoái, giữa đợt nắng nóng và hạn hán tồi tệ nhất ở Italia trong ít nhất 70 năm, một trận tuyết lở ở dãy núi Alps của Italia đã giết chết 11 người.

Theo tờ The Guardian, vẫn còn quá sớm để một nghiên cứu quy kết nguyên nhân của trận lũ lụt trong tuần qua là do sự nóng lên toàn cầu do con người gây ra.

Nhưng trên khắp châu Âu, khi nồng độ carbon dioxide trong khí quyển tăng lên, thời tiết khắc nghiệt cũng tăng theo - những năm hạn hán liên tiếp đã ảnh hưởng đến nông dân ở Tây Ban Nha và miền nam nước Pháp, trong khi năm ngoái đã có những đợt nắng nóng chưa từng có trên khắp lục địa này.

"Biến đổi khí hậu đang diễn ra ở đây và chúng ta phải gánh chịu hậu quả", Paola Pino d'Astore - chuyên gia tại Hiệp hội Địa chất Môi trường Italia (SIGEA) nói rằng, đó không phải là một viễn cảnh xa vời nào đó, mà là một điều bình thường mới.

Các chuyên gia cho biết, điều kiện địa lý của Italia khiến nước này đặc biệt dễ bị tổn thương trước các thảm họa khí hậu: địa chất đa dạng khiến nước này dễ bị lũ lụt và sạt lở đất; bên cạnh đó, các vùng biển ấm lên nhanh chóng trong bối cảnh nhiệt độ tăng cao khiến nước này dễ bị tổn thương trước những cơn bão ngày càng mạnh.

"Kẻ thù đang ở trước cổng"

Tờ The Guardian nhận định, "tiền tuyến" của cuộc khủng hoảng khí hậu cho đến nay vẫn nằm ở phía Nam bán cầu, dẫn đến điệp khúc thường được lặp đi lặp lại rằng những người ít chịu trách nhiệm nhất về khủng hoảng khí hậu đang phải đối mặt với những tác động tồi tệ nhất. Nhưng đối với Italia bây giờ, và có lẽ sắp tới là phần còn lại của châu Âu, "kẻ thù đang ở trước cổng".

Tháng 8 năm ngoái, một trạm thời tiết gần Syracuse trên đảo Sicily ở miền nam Italia đã ghi nhận nhiệt độ 48,8 độ C, được cho là mức nhiệt cao nhất từng đo được ở châu Âu. Trong khi thế giới đang vật lộn để giữ mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu dưới 1,5 độ C, thì ở Italia, nhiệt độ trung bình trong 10 năm qua đã cao hơn 2,1 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp.

Coldiretti - một hiệp hội nông dân quốc gia của Italia - cho biết, số lượng các hiện tượng thời tiết cực đoan được ghi nhận vào mùa hè năm ngoái, bao gồm lốc xoáy, mưa đá cỡ lớn và sét đánh, cao gấp 5 lần so với con số được ghi nhận cách đây một thập kỷ. Và giống như ở nhiều nơi trên thế giới đã cảm nhận được tác động của biến đổi khí hậu, nông dân là đối tượng phải chịu đựng nhiều nhất: đợt hạn hán nghiêm trọng năm ngoái khiến năng suất cây trồng tại Italia giảm tới 45%.

Tổ chức Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (WWF) tại Italia cho biết, việc mất đi các khu rừng và thảm thực vật hút nước dọc theo bờ sông ở Emilia-Romagna đã làm trầm trọng thêm thảm họa trong tuần qua: 23 dòng sông đã vỡ bờ. Các chuyên gia cho rằng, đó là hệ quả của nhiều năm xây dựng không theo quy hoạch và phát triển nông nghiệp với quy mô công nghiệp.

Bất chấp sự gia tăng của các thảm họa thời tiết cực đoan, các nhà hoạch định chính sách của Italia chỉ mới bắt đầu can thiệp. Sau gần 4 năm trì hoãn, vào tháng 12/2022, Bộ Môi trường nước này đã công bố kế hoạch quốc gia đầu tiên về thích ứng với biến đổi khí hậu.

WWF Italia cho biết trong một tuyên bố: "Chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu vượt ra ngoài cách xử lý các trường hợp khẩn cấp, và việc xem xét các tác động của quy hoạch thông thường đang ngày càng trở nên cấp thiết".

(Nguồn: CafeF)

Châu Âu ra tay sớm tránh lặp lại 'cơn khát năng lượng'

Châu Âu hiện đã bắt tay hành động để ngăn lặp lại "cơn khát năng lượng” tới mức biến thành khủng hoảng và làm khó châu lục này trong năm 2022.

Năm 2022, châu Âu phải chịu đựng cuộc khủng hoảng năng lượng nghiêm trọng, với những hóa đơn cao ngất ngưởng trong mùa hè và nguy cơ thiếu nguồn cung trong mùa đông, khi Nga cắt phần lớn khí đốt sang châu lục này.

Hiện tại, an ninh năng lượng ở các nước Liên minh châu Âu (EU) khá ổn định, theo hãng tin Reuters. Giá cả ở mức thấp hơn nhiều so với những con số kỷ lục ghi nhận trong mùa hè năm ngoái. Nhờ trải qua một mùa đông không mấy khắc nghiệt năm ngoái, các kho dự trữ khí đốt không hao hụt quá nhiều. Nhìn chung, áp lực về năng lượng đối với “lục địa già” ở thời điểm này không cao.

Châu Âu nỗ lực đảm bảo an ninh năng lượng

Song nhằm tránh lặp lại tình thế khó khăn và nguy cơ rơi vào khủng hoảng năng lượng như năm ngoái, hiện các nước EU đã bắt tay ráo riết hành động.

Tháng 3, các nhà hoạch định chính sách EU đưa ra một “sáng kiến đột phá” các thành viên cùng mua khí đốt chung. Trong đợt mua chung đầu tiên, EU đã tìm được 25 nhà cung cấp khí đốt, với khối lượng cung cấp dự kiến là 13,4 tỉ m3 (vượt qua dự kiến ban đầu của khối là 11,6 tỉ m3). Theo Reuters, đây là bước đi đáng chú ý, có khả năng xây dựng sức mạnh về năng lượng cho EU một cách đồng đều và bền vững.

Phó Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Maros Sefcovic cũng đồng ý rằng mua khí đốt chung không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro về an ninh năng lượng của từng nước thành viên mà còn tạo lợi ích chung cho toàn liên minh. Với việc mua chung, khối sẽ tạo được nền tảng đàm phán với các nhà cung cấp năng lượng, tạo lực đẩy trong thúc đẩy đối thoại và hợp tác giữa khối với các nước xuất khẩu khí đốt, tìm được nguồn cung ổn định, đáng tin cậy. Quyết định này cũng sẽ giúp EU phát tín hiệu về sự đoàn kết và quyết tâm của khối trong đảm bảo an ninh năng lượng.

EU hiện đang đẩy mạnh đầu tư và phát triển năng lượng tái tạo. Theo tờ Financial Times, thời gian qua EU đã khuyến khích các thành viên tăng cường đầu tư sản xuất năng lượng tái tạo, như năng lượng gió, mặt trời, thủy điện. Mới đây, Đức cam kết chi hàng trăm triệu euro xây dựng trạm năng lượng mặt trời tại bang Schleswig-Holstein. Dự án này dự kiến sẽ cung cấp năng lượng cho khoảng 1 triệu xe điện hoạt động trong năm 2030.

EU cũng đang nỗ lực xây dựng thêm nhiều cảng tiếp nhận khí hóa lỏng (LNG). Tháng 4, Đức cho biết ngoài việc tiếp tục mở rộng cảng LNG ở TP Lubmin (bang Mecklenburg-Vorpommern) nước này dự kiến xây thêm một cảng LNG ngoài khơi đảo Rugen để tăng khả năng tiếp nhận và lưu trữ LNG từ bên ngoài vào các nước châu Âu, theo hãng tin Bloomberg.

Ngoài ra, EU còn đẩy mạnh phát triển các hệ thống lưu trữ năng lượng để khối này có thể tận dụng tối đa các nguồn lực khi cần, như mở rộng phát triển các hệ thống pin tích trữ năng lượng, trong đó có pin quang điện hóa (pin có khả năng tích trữ năng lượng điện mặt trời) và pin nhiên liệu (pin có khả năng tích trữ nhiên liệu hóa học thành năng lượng điện).

Năm nay vẫn nhiều thách thức

Trả lời phỏng vấn đài CNBC tuần trước, Giám đốc Cơ quan năng lượng Quốc tế (IEA) Fatih Birol nhận định EU đã làm rất tốt trong mùa đông năm ngoái, tuy nhiên năm nay thách thức đối với thị trường năng lượng của khối vẫn rất đáng kể.

Thời gian tới, nhiều khả năng EU và Trung Quốc sẽ thành “đối thủ” của nhau trong cạnh tranh nguồn cung năng lượng. Năm ngoái, nguồn cung năng lượng trên thế giới có vẻ dư thừa do Trung Quốc duy trì các biện pháp phòng dịch và nhập ít dầu khí. Năm nay sẽ khác khi Trung Quốc đã mở cửa từ cuối năm ngoái để khôi phục kinh tế. Thời gian tới nhiều khả năng Bắc Kinh sẽ đẩy mạnh nhập khẩu năng lượng để tái vận hành ngành công nghiệp sản xuất của mình. Ông Birol cảnh báo “nếu EU mất nguồn cung vào tay Trung Quốc, nhiều khả năng lục địa già sẽ phải đối mặt với một mùa đông lạnh giá do thiếu năng lượng dự trữ”.

Việc chưa hoàn toàn loại bỏ sự phụ thuộc vào nguồn cung khí đốt từ Nga cũng là một thách thức với EU. Báo cáo tháng 1 của Công ty năng lượng Gazprom (Nga) cho biết dù Nga giảm 55% lượng khí đốt chuyển sang EU trong năm 2022, song Moscow và nhiều nước EU vẫn duy trì các giao dịch về năng lượng. Ông Birol cảnh báo nếu lượng khí đốt từ Nga sang EU tiếp tục bị cắt giảm trong năm nay vì “lý do chính trị” thì nhiều khả năng khối sẽ đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng hơn trong mùa đông. Lý do, dù đang rất nỗ lực nhưng EU hiện vẫn chưa đảm bảo được nguồn cung năng lượng ổn định từ thị trường thế giới.•

(Nguồn: Pháp Luật)

Các cảng hàng đầu EU giảm doanh thu vì lệnh trừng phạt Nga

(Ảnh minh họa).

Doanh thu hàng hóa tại 3 cảng lớn nhất của Liên minh châu Âu (EU) giảm đáng kể trong quý 1 năm 2023.

Các cảng hàng hóa lớn nhất của châu Âu là Rotterdam, Hamburg và Antwerp báo cáo sụt giảm đáng kể khối lượng container trong năm nay.

Chấm dứt vận chuyển hàng hóa của Nga do lệnh trừng phạt là một trong những lý do chính dẫn đến sự sụt giảm này.

Trước năm 2022, khoảng 70% hàng nhập khẩu vào Nga đi qua 3 cảng lớn ở châu Âu kể trên.

Tuần trước, cảng Hamburg của Đức công bố doanh thu hàng hóa trong quý đầu tiên của năm 2023 giảm 10,2% so với cùng kỳ xuống còn 28,1 triệu tấn, trong khi lượng container đi qua giảm 15,9%.

Theo Axel Mattern - người đứng đầu bộ phận marketing tại cảng Hamburg - các số liệu phản ánh “tình hình kinh tế chung khó khăn” do việc ngừng vận chuyển với Nga gây ra.

“Đầu năm ngoái, Nga vẫn là đối tác thương mại lớn thứ tư của cảng Hamburg" - ông Mattern nói. Ông cho biết thêm, các biện pháp trừng phạt có hiệu lực và khối lượng vận chuyển hàng hóa đến và đi từ Nga giảm, cùng với đó là những tác động kéo dài của đại dịch COVID-19 ở Trung Quốc, căng thẳng địa chính trị, lạm phát cao và sức mua của người tiêu dùng giảm cũng tác động tới tình hình của cảng.

Rotterdam ở Hà Lan - cảng lớn nhất của EU - cũng ghi nhận các chuyến hàng giảm trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 3, với tổng sản lượng hàng hóa giảm 1,5% và doanh thu container giảm 11,5% so với cùng kỳ năm ngoái.

Giới chức cảng Rotterdam gần đây cảnh báo, lưu lượng container từ châu Á gia tăng kỷ lục không bù đắp được cho việc ngừng giao thương với Nga.

So với cùng kì năm ngoái, tổng sản lượng của cảng Antwerp-Bruges của Bỉ đã giảm 4,5% trong quý đầu tiên xuống còn 68,7 triệu tấn. Theo bộ phận báo chí của cảng, sụt giảm là do bất ổn kinh tế và nhu cầu vận chuyển container trên toàn cầu chậm lại, cũng như các lệnh trừng phạt Nga.

Trong 3 tháng đầu năm 2023, lưu lượng vận tải liên quan đến Nga giảm 2/3 so với cùng kì năm ngoái, dẫn đến doanh thu container giảm 6,6%.

Trước khi bị trừng phạt, các cảng của EU là tuyến đường vận chuyển chính cho hàng hóa đến Nga. Sau khi các biện pháp trừng phạt được áp đặt, cuối năm 2022, cảng St. Petersburg - cửa ngõ chính của Nga vào châu Âu - đã chứng kiến lượng container giảm 85% so với cùng kì năm trước, theo tính toán của Viện Kinh tế Thế giới Kiel.

Các biện pháp trừng phạt Nga của EU cấm các tàu của Nga cập cảng châu Âu, cũng như hạn chế bảo hiểm hàng hóa của Nga và cung cấp các mặt hàng cho Nga. Điều này buộc các hãng vận tải phải ngừng làm việc với hàng hóa của Nga hoặc định tuyến lại các chuyến hàng từ châu Âu đến các cảng ở Viễn Đông Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran.

(Nguồn: Lao Động)

Phương Tây đang đuối sức trong cuộc chiến dầu mỏ

Áp lực từ phương Tây đối với ngành dầu mỏ của Nga đã bắt đầu giảm bớt. Ý kiến ​​​​này đã được chia sẻ bởi nhà báo Sam Meredith đến từ ấn phẩm CNBC.

Theo báo cáo mới đây do Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Không khí sạch (CREA) công bố, doanh thu từ dầu mỏ của Nga trong tháng 3 và tháng 4 đã tăng đáng kể so với các tháng trước đó.

Điều này diễn ra bất chấp thực tế là vào cuối năm ngoái, Liên minh châu Âu đã thắt chặt các biện pháp trừng phạt đối với nhiều hãng năng lượng của Nga.

Theo nhà báo Sam Meredith, những con số này cho thấy sự kém hiệu quả của phương Tây trong việc xây dựng những gói trừng phạt.

“Cuộc chiến dầu mỏ của phương Tây chống lại Nga đang bắt đầu mất tác dụng”, tác giả bài viết trên tờ báo Mỹ cho biết.

Nhà báo Sam Meredith lưu ý rằng dữ liệu về doanh thu từ dầu mỏ của Nga đã được trình bày vài ngày sau khi kết thúc hội nghị thượng đỉnh G7 ở Hiroshima.

Vào cuối cuộc họp, các nhà lãnh đạo phương Tây tuyên bố rằng những nỗ lực của họ nhằm hạn chế nguồn thu từ năng lượng của Nga đã có hiệu quả. Tuy vậy, nhiều chuyên gia ngành năng lượng có quan điểm hơi khác về tình hình và dự đoán lợi nhuận từ việc bán dầu mỏ của Nga sẽ tiếp tục tăng.

CREA cho biết trong báo cáo: “Doanh thu của Nga đối với xuất khẩu dầu thô đã tăng 6% trong tháng 4, điều này được hỗ trợ bởi đà tăng trong tháng 3”.

Vào tháng 12 năm ngoái, các nước G7, Australia và EU đã áp đặt mức trần đối với dầu thô xuất khẩu của Nga là 60 USD/thùng. Điều này xảy ra đồng thời với quyết định của Liên minh châu Âu và Vương quốc Anh áp đặt lệnh cấm nhập khẩu dầu thô của Nga bằng đường biển.

Phương Tây tin rằng gói biện pháp này sẽ dẫn đến giảm mạnh thu nhập của Liên bang Nga từ việc bán các sản phẩm năng lượng. Lúc đầu bước đi trên đã có một số tác dụng, nhưng ngay sau đó doanh thu của Moskva bắt đầu trở lại mức trước đó.

Chuyên gia Lauri Millivirta - trưởng nhóm phân tích của CREA cho biết: “Đây là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy rằng các biện pháp cấm vận nhằm vào Nga tỏ ra không mấy hiệu quả".

(Nguồn: Soha)

Gói trừng phạt thứ 11 nhằm vào Nga: Châu Âu thừa nhận một sự thật, nói lời ‘cay đắng’ về mục tiêu chỉnh đốn trong nội bộ

(Ảnh minh họa).

Thực tế, 10 gói trừng phạt nhằm vào Nga đã đạt được hiệu quả tổng thể. EU gần như đã ngừng mua dầu và khí đốt trực tiếp từ Nga, dần chấm dứt sự phụ thuộc vào năng lượng, đồng thời ngừng xuất khẩu nhiều hàng hóa và vật liệu quan trọng sang Nga. Vậy tại sao châu Âu vẫn cần gói trừng phạt thứ 11?

Đại diện cấp cao về chính sách An ninh và đối ngoại của Liên minh châu Âu (EU), kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Josep Borrell làm rõ phạm vi lệnh trừng phạt nhằm vào Nga và mục tiêu của EU, trong đó đề cập những đối tượng cần thực thi các biện pháp hạn chế.

Không phải "các biện pháp trừng phạt"

“Nga là trung tâm trong chiến lược ngăn chặn của chúng tôi, nhằm gây áp lực, buộc họ phải chấm dứt chiến dịch quân sự tại Ukraine”, ông Josep Borrell khẳng định và nói rõ rằng, dùng từ “các biện pháp trừng phạt của châu Âu nhằm vào Nga” không phải thuật ngữ chính xác, mà nên nói là “các biện pháp hạn chế”.

Theo đó, các biện pháp hạn chế của EU đối với Nga không có tác dụng ngoài phạm vi lãnh thổ, nghĩa là chúng chỉ áp dụng cho các thực thể châu Âu. Nhưng thực tế là, các lệnh hạn chế này đang bị "phá vỡ" và làm giảm hiệu quả không chỉ bởi các tác nhân bên ngoài. Và vì vậy, cuộc tranh luận hiện nay trong EU về gói trừng phạt thứ 11 nhằm vào Nga là để đưa ra những biện pháp mà châu Âu tiếp tục nên làm trong lúc này.

“Với tư cách là thành viên EU, chúng tôi không muốn mua năng lượng xuất khẩu của Nga, bởi vì chúng tôi không muốn tài trợ cho chiến dịch quân sự của Moscow tại Ukraine. Chúng tôi cũng không muốn bán các sản phẩm công nghệ và linh kiện mà Nga cần để phục vụ cho các hoạt động quân sự”. Ông Josep Borrell cũng nói rõ rằng, những quyết định hạn chế này nhằm ràng buộc các nhà điều hành kinh tế trong nội bộ EU.

Tất nhiên ở phạm vi rộng hơn, “ngay cả khi chúng tôi muốn các quốc gia khác làm điều tương tự, chúng tôi cũng không thể ép buộc họ, bởi vì "các biện pháp trừng phạt" của chúng tôi không có phạm vi ngoài lãnh thổ EU", Phó Chủ tịch EC nói về mong muốn.

Theo đó, ông Josep không có ý buộc tội, nhưng tỏ ý cảnh báo các thực thể ngoài EU rằng, việc họ đang cố lách các biện pháp hạn chế nhằm vào Nga là một vấn đề tế nhị. Châu Âu đã bước những bước cẩn trọng để tránh gây thù địch với các quốc gia không nằm trong phạm vi luật pháp của châu Âu.

Trên thực tế, các biện pháp hạn chế của châu Âu đã có hiệu quả tổng thể. Chẳng hạn, EU gần như đã ngừng mua dầu và khí đốt trực tiếp từ Nga, dần chấm dứt sự phụ thuộc vào năng lượng. Và EU cũng đã ngừng xuất khẩu nhiều hàng hóa và vật liệu quan trọng sang Nga.

Tuy nhiên, những tháng gần đây, thị trường chứng kiến sự gia tăng bất thường của các nước thứ ba nhập khẩu các mặt hàng vốn đang bị EU cấm, trong đó có hàng công nghệ cao. Ví dụ, xuất khẩu xe của EU sang Nga được báo cáo đã giảm 78% vào năm 2022, trong khi xuất khẩu từ EU sang Kazakhstan tăng tới 268%.

Các quốc gia thành viên EU hiện đang thảo luận gói trừng phạt thứ 11 nhằm vào Nga, về cơ bản là để khắc phục các lỗ hổng, tìm cách tốt nhất nhằm loại bỏ việc lách luật và chuyển hướng buôn bán các sản phẩm bị cấm.

Theo đó, ông Josep Borrell cho biết, các đề xuất đang được thảo luận sẽ nằm trong số các biện pháp ngăn chặn khác, cho phép chống lại các thực thể cố tình phá vỡ các biện pháp của EU. Nhưng khu vực này vẫn bảo lưu nguyên tắc không áp dụng các biện pháp trừng phạt với các đối tượng bên ngoài phạm vi lãnh thổ.

Chẳng hạn, EU cũng đã thảo luận về một trường hợp cụ thể, đó là việc Ấn Độ mua dầu ngày càng nhiều từ Nga, nhưng đồng thời cũng xuất khẩu nhiều hơn các sản phẩm dầu mỏ sang EU, trong đó, các sản phẩm tinh chế có rất nhiều khả năng được sản xuất từ nguồn dầu giá rẻ của Nga.

Trên thực tế, Ấn Độ cũng như Trung Quốc, đang nhập khẩu khối lượng dầu Nga - lớn hơn bao giờ hết từ khi G7 đưa ra mức trần giá vào cuối năm 2022. Họ có quyền làm như vậy bởi mức chiết khấu khá “béo bở”.

Các số liệu cho thấy, nhập khẩu dầu của Ấn Độ từ Nga đã tăng từ 1,7 triệu thùng/tháng vào tháng 1/2022 lên 63,3 triệu thùng/tháng vào tháng 4/2023. Hay nói cách khác, trước khi Nga triển khai chiến dịch quân sự tại Ukraine, tỷ trọng dầu của Nga trong tổng lượng dầu nhập khẩu của Ấn Độ là 0,2%, nhưng tỷ lệ đó đã tăng lên 36,4%, khi ghi nhận vào tháng trước.

Về việc này, Phó Chủ tịch EC Josep Borrell thẳng thắn chỉ ra, đây chắc chắn là một sự gia tăng đáng chú ý, nhưng chúng ta phải rõ ràng. “Người ta không thể đổ lỗi hay đặt câu hỏi về quyền của Ấn Độ có được làm như vậy hay không, bởi vì các nhà mua hàng Ấn Độ không phải đối tượng phải tuân theo luật pháp châu Âu”, ông Josep nói.

Nhìn nhận vấn đề theo cách lạc quan hơn, ông Borrell cho rằng, giới hạn giá năng lượng của G7 nhằm mục đích giảm doanh thu dầu mỏ của Nga và cùng với đó là hạn chế các phương tiện tài chính của Kremlin nhằm tài trợ cho chiến dịch quân sự. “Nhưng như tôi đã nói, Việc Ấn Độ mua dầu của Nga là chuyện bình thường. Và nếu, nhờ những hạn chế của chúng tôi về năng lượng, Ấn Độ có thể được mua dầu với giá rẻ hơn nhiều, thì tức là doanh thu của Nga cũng đã giảm đáng kể”.

Mục tiêu "chỉnh đốn" nội bộ?

Vấn đề hiện đang được tranh cãi liên qua nhiều hơn đến việc cần phải làm gì tiếp theo và bởi ai?

Một thực tế khác không thể phủ nhận, đó là Ấn Độ đang xuất khẩu ngày càng nhiều hơn các sản phẩm dầu tinh chế, dựa trên nguồn dầu mỏ của Nga. EU muốn ngăn chặn chính xác việc nhập khẩu những sản phẩm có nguồn gốc như vậy.

Ở đây một lần nữa những con số đã cho thấy rõ, xuất khẩu các sản phẩm tinh chế như nhiên liệu máy bay hoặc dầu diesel từ Ấn Độ sang EU đã tăng từ 1,1 triệu thùng vào tháng 1/2022 lên 7,4 triệu thùng vào tháng 4/2023. Về mặt logic, EU đang lo ngại điều này.

Trước đó, ông Oleg Ustenko, cố vấn kinh tế của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskyy, cũng đã có lý khi nói, họ có đủ bằng chứng cho thấy một số công ty quốc tế đang mua các sản phẩm dầu tinh chế có nguồn gốc từ dầu Nga và bán lại cho châu Âu…

Nhưng, một lần nữa, “người đáng trách” không phải là Ấn Độ. Sau khi dầu mỏ được tinh chế, những sản phẩm cuối cùng không còn được coi là của Nga mà là của Ấn Độ. Chúng tôi không thể ngăn cản các nhà máy lọc dầu của Ấn Độ bán chúng cho một nhà điều hành EU hoặc cho một bên trung gian. Điều đó hoàn toàn hợp pháp.

Rõ ràng là về mặt thực tế, điều này làm suy yếu hiệu quả của các biện pháp hạn chế của chúng tôi. Chúng tôi ở EU không mua dầu của Nga, nhưng chúng tôi mua dầu diesel được tinh chế từ nguồn dầu Nga và từ một đối tác khác. “Việc này đã phá vỡ các biện pháp trừng phạt của EU. Các quốc gia thành viên nên thực hiện đầy đủ lệnh trừng phạt nhằm vào Nga để đạt được mục tiêu”, ông Josep Borrell kêu gọi.

Nhưng cuối cùng, ai sẽ phải chịu trách nhiệm cho việc này – người bán hay người mua?

"Khi tôi nêu vấn đề về việc Ấn Độ xuất khẩu các sản phẩm tinh chế dựa trên nguồn dầu giá rẻ hơn của Nga, không phải để chỉ trích Ấn Độ mà để nói rằng, chúng ta không thể nhắm mắt làm ngơ trước cách lách lệnh trừng phạt của chính các công ty EU - mua dầu tinh chế của Ấn Độ", vị Phó Chủ tịch EC nhấn mạnh.

Cuối cùng, theo ông Josep Borrell, từ câu chuyện thực tế này cho thấy, trước tiên phải xem xét cụ thể những việc các nhà điều hành kinh tế trong nội bộ EU đang làm. "Nếu các nhà máy lọc dầu của Ấn Độ đang bán, đó là vì có các công ty châu Âu đang mua, trực tiếp hoặc thông qua trung gian. Chúng ta nên nhận thức rõ cuộc sống thực tế phức tạp như thế nào và cố gắng tìm kiếm các giải pháp trên cơ sở đó".

(Nguồn: Báo Quốc Tế)

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Việt Nam

Người Việt hải ngoại

EU

Thế giới

Lên đầu trang