.jpg)
MỘT LOẠT NƯỚC EU "THẬP DIỆN MAI PHỤC" KHÍ ĐỐT NGA
Một loạt nước EU yêu cầu thắt chặt các quy tắc báo cáo trên toàn khối về nhập khẩu khí đốt Nga.
Tờ Financial Times đưa tin, Pháp, cùng với 9 quốc gia Liên minh châu Âu (EU) khác bao gồm Áo và Cộng hòa Czech, đã gửi một văn bản trước cuộc họp của các Bộ trưởng Năng lượng EU ngày 15.10.
Mười quốc gia này kêu gọi Ủy ban châu Âu yêu cầu các công ty đã đăng ký nhập khẩu LNG của Nga tại các cảng của EU phải xác định rõ ràng về khối lượng nhập khẩu.
Bộ trưởng Năng lượng Pháp Agnès Pannier-Runacher tuyên bố, "mức độ minh bạch cao nhất liên quan đến LNG" là cần thiết để "loại bỏ sự phụ thuộc vào nhiên liệu của Nga".
Theo dữ liệu từ Viện Kinh tế Năng lượng và Phân tích Tài chính (IEEFA), trong nửa đầu năm 2024, lượng khí đốt nhập khẩu từ Nga vào EU đã tăng 11% so với cùng kỳ năm ngoái, bất chấp những nỗ lực của Liên minh châu Âu nhằm "cai" nhiên liệu hóa thạch của Nga.
Pháp, Tây Ban Nha và Bỉ chiếm 87% lượng LNG nhập khẩu từ Nga của châu Âu trong nửa đầu năm 2024, trong đó lượng nhập khẩu vào Pháp tăng gấp đôi, còn lượng nhập khẩu vào Bỉ giảm 16%.
Bỉ, quốc gia từ lâu đã kêu gọi EU trừng phạt LNG của Nga, cho biết trong một tài liệu riêng ngày 15.10 rằng, nước này đã và đang xây dựng một cơ chế để truy xuất nguồn gốc của LNG, "giúp có thể theo dõi và hạn chế LNG của Nga nếu cần thiết".
Sau khi khí đốt nhập khẩu vào EU, rất khó truy xuất điểm đến cuối cùng vì khí đốt này thường bị trộn lẫn với khí đốt từ các nguồn khác và chịu sự ràng buộc của các hợp đồng nhạy cảm về mặt thương mại.
Những nỗ lực nhằm giảm dòng nhiên liệu của Nga vào EU đã bị cản trở bởi Hungary, quốc gia liên tục phản đối lệnh trừng phạt và tìm cách gia hạn các thỏa thuận hiện có với tập đoàn dầu khí lớn của Nga là Gazprom.
Tuần trước, Budapest đã ký một thỏa thuận với Gazprom để tiếp tục cung cấp khí đốt qua đường ống dẫn khí của Thổ Nhĩ Kỳ.
Khí đốt từ Nga cũng đến EU thông qua Ukraina - bất chấp xung đột - theo một hợp đồng sẽ hết hạn vào cuối năm nay. Một quan chức cấp cao châu Âu cho biết các cuộc thảo luận về việc gia hạn hợp đồng này là "một vấn đề rất nhạy cảm". "Chúng ta cần thừa nhận thực tế là Ukraina đang nhận được doanh thu từ hoạt động trung chuyển" - quan chức nói.
Sven Giegold, Bộ trưởng Bộ Kinh tế và Hành động vì Khí hậu của Đức, cho biết thật "đáng lo ngại" khi thấy lượng nhiên liệu nhập khẩu từ Nga tăng lên và Ủy ban châu Âu nên đưa ra "lộ trình để giảm lượng nhiên liệu nhập khẩu từ Nga xuống mức bằng 0".
Mối lo ngại này xuất hiện sau khi EU thực hiện bước đầu tiên nhằm hạn chế LNG của Nga vào tháng 6 bằng cách trừng phạt việc trung chuyển - tái xuất nhiên liệu của Nga sang các nước thứ ba - từ các cảng của EU.
Các nước EU bao gồm Hà Lan đã nêu lo ngại rằng lệnh cấm này có tác dụng phụ không mong muốn là làm tăng lượng hàng hóa vận chuyển vào EU vì chúng không còn có thể được tái xuất sang nơi khác, mặc dù lệnh cấm chỉ chính thức có hiệu lực vào tháng 3 năm sau.
KINH TẾ CHÂU ÂU TĂNG TRƯỞNG NHẸ
Nền kinh tế khu vực đồng euro đã cho thấy một số dấu hiệu tích cực khi hàng loạt chỉ số phản ánh sự tăng trưởng nhẹ trong bối cảnh khu vực đã tránh được suy thoái hơn 1 năm qua.
Sản lượng công nghiệp tăng trưởng và nhu cầu vay vốn gia tăng, trong khi khảo sát niềm tin kinh tế tại Đức – nền kinh tế lớn nhất khu vực cũng có sự cải thiện vượt dự báo, mang lại lạc quan sau khi các chỉ số chính liên tục thấp hơn kỳ vọng trong tháng trước.
Theo số liệu từ Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat) công bố ngày 15/10, sản lượng công nghiệp trong tháng 8 tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 0,1% so với cùng kỳ năm ngoái, được thúc đẩy bởi nhu cầu tăng đối với vốn và hàng tiêu dùng lâu bền.
Tại Đức, sản lượng công nghiệp tăng hơn 3% trong tháng – mức tăng lớn nhất trong các nền kinh tế lớn của khu vực.
Một dấu hiệu tích cực khác cho Đức là chỉ số niềm tin kinh doanh của các nhà đầu tư đã tăng mạnh hơn dự kiến trong tháng 10, với chỉ số ZEW tăng lên 13,1 điểm so với 3,6 điểm trong tháng 9.
Kỳ vọng về lạm phát thấp và ổn định, khả năng cắt giảm lãi suất tiếp theo, cùng với sự cải thiện nhẹ trong nhu cầu xuất khẩu đã góp phần nâng cao niềm tin kinh tế, theo báo cáo của ZEW.
Một yếu tố dự báo tăng trưởng kinh tế bền vững khác là nhu cầu vay vốn cũng tăng, phản ánh hy vọng về lãi suất có thể được Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cắt giảm về mức thấp hơn.
ECB đã 2 lần cắt giảm lãi suất trong năm nay, đồng thời để ngỏ khả năng cắt giảm tiếp vào tháng 12, khi lạm phát đã tiến gần đến mục tiêu 2%.
Theo một khảo sát của ECB, nhu cầu vay ngân hàng – nguồn vốn chính cho khu vực doanh nghiệp đã tăng trong quý III và dự kiến sẽ tiếp tục tăng trong ba tháng cuối năm, với các khoản vay thế chấp nhà ở đóng vai trò dẫn dắt.
ECB cho biết, nhu cầu vay doanh nghiệp tăng do lãi suất giảm, nhưng đầu tư ít tác động. Đối với khách hàng hộ gia đình, nhu cầu vay tăng chủ yếu do lãi suất giảm và triển vọng thị trường nhà ở cải thiện.
Ngân hàng này kỳ vọng quý tới nhu cầu vay sẽ tiếp tục tăng ở tất cả các phân khúc, đặc biệt là các khoản vay mua nhà.
CÁC HÃNG XE ĐIỆN EU CẠNH TRANH TRỰC TIẾP VỚI TRUNG QUỐC TẠI TRIỂN LÃM PARIS
.jpg)
Các hãng xe điện Trung Quốc đã có sự hiện diện mạnh mẽ tại Paris Motor Show, triển lãm xe ô tô lớn nhất châu Âu.
Triển lãm ô tô Paris đã khai mạc vào ngày hôm qua tại thủ đô Paris của nước Pháp. Tâm điểm của triển lãm ô tô năm nay là các mẫu xe điện mới nhất đến từ các hãng xe lớn của Trung Quốc và Liên minh châu Âu EU vào thời điểm hai bên đang có các tranh cãi về thuế quan.
Các hãng xe điện Trung Quốc đã có sự hiện diện mạnh mẽ tại Paris Motor Show, triển lãm xe ô tô lớn nhất châu Âu. Có tới 9 tập đoàn của Trung Quốc bao gồm các hãng xe hàng đầu như BYD và Leapmotor, mang tới các mẫu xe điện mới nhất.
Bất chấp việc EU vừa áp mức thuế lên tới 45% với xe điện nhập khẩu từ Trung Quốc, các hãng xe Trung Quốc vẫn khẳng định quyết tâm bám trụ với thị trường này.
Ông Brian Gu - Đồng chủ tịch tập đoàn xe điện XPeng, Trung Quốc cho biết:"Chúng tôi có các cam kết lâu dài với châu Âu. Đây là thị trường cực kỳ quan trọng với chúng tôi. Chúng tôi sẽ xem xét các ảnh hưởng của thuế quan lên sản phẩm của mình và xem nên làm gì để thích ứng với mức thuế này. Chúng tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để tiếp tục duy trì sức cạnh tranh tại châu Âu".
Triển lãm năm nay cũng chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ số lượng các hãng xe châu Âu với hàng loạt mẫu xe điện nổi bật. Tổng thống Pháp Macron đã đến tham gia triển lãm và khẳng định nước Pháp và châu Âu sẽ thúc đẩy ngành công nghiệp xe điện vì đây là lĩnh vực quan trọng với nền kinh tế.
Tổng thống Pháp Emmaanuel Macron nhận định: "Năm năm trước không ai nghĩ rằng chúng ta có thể sản xuất xe điện ở Pháp. Thế nhưng ngày hôm nay chúng ta đã có các sản phẩm xe điện đầu tiên. Chúng ta đang tiến bộ và chúng ta nhất định sẽ thúc đẩy ngành xe điện ngay cả trong thời kỳ khó khăn này, khi mà quy mô thị trường xe châu Âu đang thu hẹp và có sự cạnh tranh gay gắt từ các hãng xe Trung Quốc".
Các hãng xe châu Âu đang đứng trước áp lực phải hạ giá bán để cạnh tranh với các mẫu xe điện giá rẻ hơn đến từ Trung Quốc. Bất chấp việc bị áp thuế cao, cho đến nay, chưa hãng xe Trung Quốc nào thông báo kế hoạch tăng giá sản phẩm mà chủ yếu tìm cách mở nhà máy tại EU để tránh bị áp thuế nhập khẩu nguyên chiếc, nhờ vậy vẫn duy trì được mức giá rẻ hơn so với các đối thủ đến từ châu Âu.
NHIỀU NƯỚC CHÂU ÂU THIẾU THUỐC
Tình trạng nghẽn nguồn cung thuốc đã diễn ra ở châu Âu trong vài năm gần đây, nhưng ở Đức, tình trạng này trở nên tồi tệ hơn trong những tháng qua. Các nhà phân tích cho rằng khó có thể phục hồi nguồn cung sớm.
Theo phóng viên TTXVN tại Đức, ông Thomas Preis, người đứng đầu Phòng Dược sĩ North Rhine-Westphalia (Nordrhein-Westfalen), bang phía Tây nước Đức, cho biết tình hình đã trở nên tồi tệ hơn rất nhiều trong những tháng gần đây và là vấn đề lớn trong các bệnh viện, làm ảnh hưởng đến cả việc chăm sóc bệnh nhân ngoại trú.
Bộ Y tế bang North Rhine-Westphalia xác nhận đã có tình trạng tắc nghẽn nguồn cung. Bộ này cho biết trong nhiều tháng, "các phòng khám ở North Rhine-Westphalia và Đức chỉ tiếp nhận được 80% nhu cầu thuốc" và gần đây con số này đã giảm xuống còn khoảng 50%. Theo Viện Liên bang về Thuốc và Thiết bị Y tế (BfArM), tình hình này sẽ còn tiếp diễn trong nhiều tháng tới.
Các quốc gia EU khác cũng bị ảnh hưởng bởi tình trạng thiếu thuốc. Theo một cuộc khảo sát năm 2023 do Nhóm Dược phẩm Liên minh Châu Âu (PGEU) thực hiện, tình trạng thiếu thuốc đã trở nên tồi tệ hơn ở một số quốc gia thành viên, bao gồm Thụy Điển, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.
Nguyên nhân gây ra tình trạng thiếu thuốc cũng như việc sản xuất thuốc đều rất phức tạp. Đối với Đức, nơi tự hào có các công ty dược phẩm lớn như Bayer, BASF, Boehringer Ingelheim và BioNTech, từng được coi là "nhà thuốc của thế giới", thì nay hoạt động sản xuất thuốc hiện diễn ra trên toàn thế giới nên chuỗi cung ứng dài hơn và dễ bị gián đoạn.
Phần lớn các thành phần hoạt tính hiện được sản xuất tại Trung Quốc và Ấn Độ. Sản xuất hàng loạt và độc quyền đã trở thành trọng tâm để sản xuất thuốc rẻ hơn. Vì vậy, một số nhỏ nhà cung cấp đang sản xuất số lượng ngày càng lớn. Vì bị phụ thuộc vào một vài nhà sản xuất nên nếu một trong số họ bị kẹt là toàn bộ chuỗi cung ứng cũng bị kẹt theo.
Hàng tồn kho ít và sản xuất chỉ vừa kịp đủ dùng càng làm trầm trọng thêm vấn đề vì không thể bù đắp được tình trạng thiếu cung tạm thời trong chuỗi sản xuất. Các chuyên gia cũng cho biết việc bổ sung hàng rất tốn kém. Vận hành các cơ sở lưu trữ thuốc có chi phí rất cao và không bao giờ chắc chắn được thuốc trong kho có bán được hay không do nhu cầu biến động rất lớn.
Vấn đề giá cả cũng rất nghiêm trọng đối với các loại thuốc cùng gốc (generic), chiếm 70 đến 80% nguồn cung dược phẩm cơ bản. Biên lợi nhuận để sản xuất những sản phẩm này cực kỳ thấp. Các nhà sản xuất buộc phải sản xuất với giá rẻ nhất có thể thông qua các thỏa thuận giảm giá và các thỏa thuận khác đã được đưa vào hệ thống chăm sóc sức khỏe của Đức cách đây nhiều năm.
Mặc dù nhiều người đã lên tiếng về vấn đề này, nhưng sẽ rất khó để đưa hoạt động sản xuất thuốc quay trở lại EU hoàn toàn. Một lý do là sản xuất các hóa chất tinh khiết cần thiết cho các thành phần hoạt tính giờ đây rất phức tạp. Đức đã có luật về môi trường khiến điều này gần như không thể thực hiện được. Ngay cả khi có thể, phải mất ít nhất 5 năm để tái lập các cơ sở sản xuất.
MỘT LOẠT NƯỚC EU KHÔNG ĐẠT ĐƯỢC THỎA THUẬN HỖ TRỢ UKRAINE
.jpg)
Các Ngoại trưởng Liên minh châu Âu (EU) ngày 14/10 (giờ địa phương) một lần nữa không đạt được sự đồng thuận về Quỹ hỗ trợ Ukraine trong khuôn khổ Quỹ hòa bình châu Âu (EPF).
Theo đại diện cấp cao về chính sách đối ngoại và an ninh của EU Josep Borrell, các Ngoại trưởng “gần như đã đạt được việc này” và chắc chắn sẽ xem xét để tìm ra cách đạt được sự đồng thuận hoàn toàn của tất cả các quốc gia thành viên về đề xuất.
EPF là một cơ chế tài trợ quân sự ngoài ngân sách được thành lập vào tháng 3/2021 với tổng giá trị hơn 17 tỷ euro (18,5 tỷ USD) cho giai đoạn 2021-2027. Hầu hết các quỹ của cơ chế này đã được phân bổ để bồi thường một phần cho các nước EU liên quan số tiền đã chi để viện trợ quân sự cho Ukraine. Và sau khi nổ ra cuộc xung đột Nga – Ukraine, EPF đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp hỗ trợ tài chính và quân sự cho Kiev. Tuy nhiên, EU đã và đang phải đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng trong việc duy trì sự đồng thuận về việc mở rộng EPF để hỗ trợ Ukraine. Việc không đạt được sự nhất trí trong EU về Quỹ này đã làm gia tăng lo ngại về khả năng tiếp tục hỗ trợ Ukraine, đồng thời phản ánh sự phân hóa trong nội bộ của liên minh. Đây là kết quả của một loạt yếu tố chính trị, kinh tế và chiến lược.
Trong EU, sự khác biệt về quan điểm chiến lược giữa các nước thành viên đã trở thành một trở ngại lớn đối với việc đạt được sự nhất trí về vấn đề Ukraine. Các nước Đông Âu, đặc biệt là Ba Lan và các nước Baltic, có quan điểm cứng rắn đối với Nga và ủng hộ mạnh mẽ việc tiếp tục hỗ trợ quân sự cho Ukraine. Họ coi chiến thắng của Ukraine là yếu tố quan trọng để đảm bảo an ninh quốc gia và ổn định khu vực. Tuy nhiên, một số quốc gia Tây Âu, đặc biệt là Pháp và Đức, đã bắt đầu có sự thận trọng hơn về việc tiếp tục đổ thêm nguồn tài chính vào cuộc chiến. Những nước này lo ngại rằng, việc tiếp tục kéo dài cuộc xung đột có thể gây ra những hệ lụy tiêu cực, không chỉ đối với Ukraine mà còn đối với an ninh và kinh tế của toàn bộ châu Âu. Một số quốc gia, như Hungary, thậm chí đã có thái độ hoài nghi đối với việc hỗ trợ Ukraine, với lý do rằng điều này có thể làm gia tăng nguy cơ đối đầu với Nga, một đối tác năng lượng quan trọng của châu Âu.
Bên cạnh đó, sự mệt mỏi vì chiến tranh và tác động kinh tế của cuộc chiến đã làm giảm sự ủng hộ của công chúng và các chính trị gia tại một số nước EU đối với việc tiếp tục hỗ trợ Ukraine. Trong hai năm qua, EU đã phải đối mặt với các cuộc khủng hoảng kinh tế và năng lượng nghiêm trọng, do sự gián đoạn nguồn cung từ Nga và chi phí quân sự tăng cao. Người dân tại nhiều quốc gia, đặc biệt là những nước như Italy, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, đang phải đối mặt với lạm phát cao, giá năng lượng tăng và những khó khăn kinh tế. Điều này đã tạo ra áp lực lên các chính phủ, buộc họ phải cân nhắc lại việc tiếp tục đổ tài chính vào một cuộc chiến xa xôi, thay vì tập trung giải quyết các vấn đề nội bộ.
Chưa hết, trong thời gian gần đây, sự trỗi dậy của các phong trào dân túy và những đảng phái hoài nghi EU đã làm gia tăng sự chia rẽ trong liên minh về vấn đề hỗ trợ Ukraine. Các đảng phái này đã tận dụng tình hình kinh tế khó khăn để kêu gọi giảm bớt cam kết đối với Ukraine, nhấn mạnh rằng lợi ích của người dân trong nước nên được đặt lên trên hết. Sự xuất hiện của những chính trị gia dân túy có quan điểm bài ngoại và hoài nghi về NATO và EU đã khiến việc đạt được sự đồng thuận chung về Quỹ hòa bình châu Âu trở nên phức tạp hơn. Họ thường cho rằng EU đang can thiệp quá sâu vào cuộc xung đột mà không cân nhắc đến hậu quả đối với các thành viên.
Việc EU không đạt được sự đồng thuận về Quỹ hỗ trợ Ukraine có thể dẫn đến nhiều hệ quả tiêu cực, không chỉ đối với Ukraine mà còn đối với bản thân EU và an ninh khu vực. Đối với Ukraine, việc thiếu đi sự hỗ trợ tài chính và quân sự từ EU có thể tạo ra những thách thức lớn trong việc duy trì cuộc chiến chống lại Nga. Quỹ hỗ trợ Ukraine đóng vai trò quan trọng trong việc giúp chính phủ Ukraine duy trì hoạt động kinh tế, cung cấp các dịch vụ cơ bản cho người dân và tiếp tục mua sắm vũ khí, thiết bị quân sự để duy trì sức mạnh quân sự.
Nếu EU không thể đạt được sự đồng thuận về việc tiếp tục hỗ trợ Ukraine, điều này có thể làm suy yếu khả năng của Ukraine trong việc đối phó với các cuộc tấn công từ Nga và bảo vệ lãnh thổ của mình. Đồng thời, nó cũng có thể tạo ra một thông điệp tiêu cực về sự suy yếu của sự ủng hộ quốc tế dành cho Ukraine, có thể làm gia tăng áp lực buộc Ukraine phải nhượng bộ trong các cuộc đàm phán hòa bình với Nga. Đối với EU, việc không đạt được sự đồng thuận về Quỹ hỗ trợ Ukraine có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với sự thống nhất và uy tín của liên minh trên trường quốc tế. EU đã xây dựng hình ảnh là một khối thống nhất và mạnh mẽ trong việc đối phó với các cuộc khủng hoảng toàn cầu, đặc biệt là cuộc chiến ở Ukraine.
Tuy nhiên, nếu EU không thể thống nhất về việc hỗ trợ Ukraine trong giai đoạn quan trọng này, nó có thể tạo ra hình ảnh của một liên minh bị chia rẽ và không còn khả năng hành động hiệu quả. Sự chia rẽ này cũng có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ của EU với các đối tác quốc tế, đặc biệt là Mỹ, quốc gia đã đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ Ukraine. Sự suy giảm trong cam kết của EU có thể gây ra căng thẳng trong mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương và làm suy yếu khả năng phối hợp hành động giữa các đồng minh phương Tây. Sự không thống nhất trong việc hỗ trợ Ukraine còn có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh khu vực. Nếu Ukraine không nhận được đủ sự hỗ trợ cần thiết từ EU, cuộc chiến có thể kéo dài hơn, làm gia tăng sự bất ổn tại khu vực Đông Âu. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến Ukraine mà còn tạo ra mối đe dọa cho các nước láng giềng EU, đặc biệt là các nước Baltic và Ba Lan, những quốc gia coi cuộc chiến tại Ukraine là một yếu tố then chốt đối với an ninh của chính họ.
Mặc dù việc không đạt được sự đồng thuận về việc ủng hộ Ukraine là một tín hiệu tiêu cực, nhưng không phải là không có hy vọng về sự thay đổi trong tương lai. Trong bối cảnh các cuộc đàm phán đang diễn ra, EU vẫn có khả năng tìm ra các giải pháp để tiếp tục hỗ trợ Ukraine. Theo đó, như đã thấy trong quá khứ, EU có khả năng tìm đến các giải pháp thỏa hiệp giữa các quốc gia thành viên để vượt qua những bất đồng. Sự áp lực từ các nước ủng hộ mạnh mẽ Ukraine, chẳng hạn như Ba Lan và các nước Baltic, cùng với sự hỗ trợ từ các đối tác quốc tế như Mỹ, có thể tạo ra động lực để các nước khác trong EU xem xét lại lập trường của mình.
Một trong những giải pháp tiềm năng là EU có thể điều chỉnh chiến lược hỗ trợ Ukraine bằng cách giảm bớt sự phụ thuộc vào EPF và tìm kiếm các nguồn tài chính khác. Các chương trình tài trợ nhân đạo và tái thiết có thể được mở rộng, nhằm giảm bớt áp lực tài chính lên các quốc gia thành viên EU và tránh các cuộc tranh luận về hỗ trợ quân sự.
Việc EU tiếp tục không đạt được sự đồng thuận về Quỹ hỗ trợ Ukraine trong khuôn khổ EPF là một thách thức lớn đối với cả EU và Ukraine. Tuy nhiên, với sự đoàn kết và khả năng đàm phán, EU vẫn có cơ hội vượt qua các bất đồng nội bộ để duy trì cam kết hỗ trợ Ukraine trong thời gian tới.
Nguồn: Lao Động; Nhân Dân; VTV; Báo Tin Tức; CAND
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá