- Tư vấn
.jpg)
Dự thảo Luật Đất đai 2026 đề xuất 8 trường hợp bị Nhà nước thu hồi đất nhưng không được bồi thường về đất, người dân cần lưu ý.
Nguyên tắc bồi thường và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo dự thảo Luật Đất đai 2026
Theo Điều 42 Dự thảo Luật Đất đai 2026, bản dự thảo ngày 8/8/2026, nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được đề xuất theo hướng bảo đảm quyền lợi về tài sản, việc làm, thu nhập và điều kiện sống của người có đất bị thu hồi.
Theo đó, chủ sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật dân sự nếu bị thiệt hại về tài sản sẽ được bồi thường thiệt hại. Trường hợp chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh phải ngừng sản xuất, kinh doanh do Nhà nước thu hồi đất thì được xem xét hỗ trợ.
Nhà nước cũng có trách nhiệm hỗ trợ người có đất thu hồi và chủ sở hữu tài sản, nhằm tạo điều kiện để những người này có việc làm, có thu nhập, ổn định đời sống và sản xuất.
Đối với tái định cư, dự thảo quy định khu tái định cư phải hoàn thiện các điều kiện về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ theo quy hoạch chi tiết được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Đồng thời, khu tái định cư phải phù hợp với truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư nơi có đất thu hồi. Một khu tái định cư có thể được bố trí cho một hoặc nhiều dự án.
Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, nếu người sử dụng đất có nhu cầu thu hồi phần diện tích còn lại của thửa đất bị thu hồi thì cơ quan, người có thẩm quyền thu hồi đất sẽ quyết định thu hồi đất và thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, quản lý diện tích đất này theo quy định của Chính phủ.
Kinh phí và việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Đáng chú ý, trong thời gian thông báo thu hồi đất còn hiệu lực, nếu người có đất thu hồi thực hiện chuyển quyền sử dụng đất thì bên nhận chuyển quyền sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Tuy nhiên, mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không vượt quá tổng mức áp dụng đối với bên chuyển quyền sử dụng đất.
Những trường hợp không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi
Bên cạnh các nguyên tắc về bồi thường, dự thảo Luật Đất đai 2026 cũng quy định các trường hợp không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.
Cụ thể, trường hợp thứ nhất là đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được bồi thường về đất theo quy định của Luật.
Thứ hai là đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất.
Thứ ba là đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hằng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất. Ngoại lệ là trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở được Nhà nước bồi thường về đất theo quy định của Luật.
Thứ tư là đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích do Ủy ban nhân dân cấp xã cho thuê.
Thứ năm là đất nhận khoán để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.
Thứ sáu là diện tích đất nông nghiệp được giao vượt hạn mức giao đất.
Thứ bảy là đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý.
Thứ tám là đất bị thu hồi do vi phạm pháp luật về đất đai; do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật; do người sử dụng đất giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất và tự nguyện trả lại đất theo quy định của Luật.
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/VZFZX3J7w0HIYEKZf
Từ 10/9/2026, không trả tiền BHYT, BHXH cho người giúp việc gia đình, người sử dụng lao động sẽ bị phạt từ 10.000.000-15.000.000 đồng.
Theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP, người sử dụng lao động là người giúp việc gia đình sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng nếu không trả cho lao động là người giúp việc gia đình khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật để người lao động chủ động tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
Đối tượng áp dụng quy định về lao động là người giúp việc gia định
1. Người sử dụng lao động, người lao động và các cá nhân, tổ chức khác có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được quy định tại Nghị định này.
2. Người có thẩm quyền xử phạt, người có thẩm quyền lập biên bản.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính và thi hành các hình thức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định này.
Các hành vi phạm quy định về lao động là người giúp việc gia đình
1. Phạt cảnh cáo đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
a) Không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với lao động là người giúp việc gia đình;
b) Không trả tiền tàu xe đi đường khi lao động là người giúp việc gia đình thôi việc về nơi cư trú, trừ trường hợp lao động là người giúp việc gia đình chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn.
2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
a) Không thông báo cho Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu việc sử dụng lao động hoặc chấm dứt việc sử dụng lao động là người giúp việc gia đình theo quy định;
b) Đã bị xử phạt cảnh cáo đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này nhưng lại tiếp tục vi phạm.
3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
a) Giữ giấy tờ tùy thân của lao động là người giúp việc gia đình;
b) Không trả cho lao động là người giúp việc gia đình khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật để người lao động chủ động tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
4. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động, hoặc dùng vũ lực đối với người lao động là người giúp việc gia đình nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả
a) Buộc người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với lao động là người giúp việc gia đình khi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/5AKRbZIdKTYnU6A6d
Việc sửa Luật Đất đai hướng tới tái thiết cuộc sống, giải quyết bài toán sinh kế và định giá đất, góp phần hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, đồng thời khởi thông nguồn lực cho phát triển kinh tế.
Tái thiết cuộc sống cho người dân khi thu hồi đất
Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa 14 đã bế mạc chiều 24/8. Tại kỳ họp, Quốc hội đã cho ý kiến lần đầu về Dự án sửa đổi Luật Đất đai năm 2024. Dự án Luật dự kiến tiếp tục được hoàn thiện để trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ hai vào tháng 10 tới.
Một trong những định hướng quan trọng là chuyển mạnh từ tư duy bồi thường tài sản bị thu hồi sang tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất. Bảo đảm người có đất bị thu hồi có chỗ ở, điều kiện sống ngang bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ, đồng thời quan tâm đến sinh kế lâu dài.
Thực tế tại một số địa phương cho thấy, khi nơi ở mới, sinh kế và những điều kiện thiết yếu của cuộc sống được tính toán ngay từ đầu, việc tạo đồng thuận trong giải phóng mặt bằng cũng thuận lợi hơn.
Theo ghi nhận của phóng viên VTV tại một khu đất trong số được bố trí tái định cư cho người dân, khu đất vốn được quy hoạch là nhà văn hóa, nhưng sau khi sáp nhập tổ dân phố, trở thành quỹ đất dôi dư, nên chính quyền địa phương đã kiến nghị với UBND tỉnh chuyển thành đất tái định cư. Vì thế, người dân được bố trí tái định cư ngay gần nơi ở cũ. Một số quỹ đất vốn là đất đấu giá sạch, vị trí thuận lợi cũng được xin chuyển sang làm đất tái định cư.
Ông Lê Văn Khương, xã Phù Đổng, TP Hà Nội, cho biết: "Cơ sở đang hoạt động ổn định, nay phải phá dỡ, chúng tôi phải thuê thêm kho làm nơi sản xuất cho công nhân. Tuy nhiên, vì lợi ích lâu dài, khi tuyến đường được mở rộng, con cháu mai sau sẽ được hưởng".
"Để tạo sự đồng thuận của người dân, trước hết cần sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động; đồng thời giải quyết tốt các đề xuất, kiến nghị và hỗ trợ người dân ổn định đời sống", ông Nguyễn Đức Mạnh, Phó Chủ tịch UBND phường Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, cho biết.
Việc "tái thiết cuộc sống" thể hiện ở một nơi ở mới ổn định, có việc làm, có nguồn thu nhập lâu dài… Đây là yếu tố quan trọng để tạo sự đồng thuận và đẩy nhanh tiến độ các dự án.
Sửa Luật Đất đai: Bồi thường thu hồi đất hướng tới ổn định cuộc sống lâu dài
Giải phóng mặt bằng vốn là điểm nghẽn lớn nhất của hầu hết các dự án. Chính sách bồi thường khi thu hồi đất đang được đề xuất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) theo cách tiếp cận mới, không chỉ hướng tới giải quyết quyền lợi trước mắt, mà còn quan tâm hơn đến cuộc sống và sinh kế lâu dài của người dân... Nhiều ý kiến nhận định, chính sách này sẽ có tác động rất tích cực khi giúp giảm thiểu tranh chấp và tạo sự đồng thuận.
Luật sư Hoàng Hà, Đoàn Luật sư TP Hồ Chí Minh, cho rằng: "Đây là định hướng có tầm nhìn sâu rộng, thể hiện quan điểm đặt quyền lợi người dân lên hàng đầu. Vì vậy, các nhà lập pháp cần cụ thể hóa định hướng này thành những tiêu chí có thể đo lường được khi Luật Đất đai mới đi vào cuộc sống".
Ông Lê Quốc Kiên, chuyên gia tư vấn bất động sản, cho biết: "Định hướng này rất quan tâm đến người được đền bù, giúp họ có cuộc sống tốt hơn, nơi ở mới tốt hơn và tạo việc làm. Khi đó, chính sách sẽ bền vững hơn."
Gỡ điểm nghẽn định giá đất
Bên cạnh khâu giải phóng, bồi thường hỗ trợ tái định cư... khâu xác định tiền sử dụng đất sắp tới đây được kỳ vọng sẽ được tháo gỡ quyết liệt hơn, nhờ những chuyển biến mới từ Luật đất đai (sửa đổi). Dự thảo đề xuất sử dụng bảng giá, hệ số điều chỉnh để tính tiền thu ngân sách từ đất đai. Đây là giải pháp đề xuất thay cho phần lớn phương pháp xác định giá đất cụ thể trước - vốn là nguyên nhân khiến các địa phương phải tính giá đất rất cao, theo giá thị trường, làm tăng chi phí, đẩy giá bán nhà liên tục tăng.
Theo phản ánh từ các doanh nghiệp, thời gian qua, nhiều dự án đã phải chịu tính giá đất rất cao, theo giá thị trường. Từ đó, khiến giá đầu vào tăng, cộng với chi phí vốn vay, thủ tục kéo dài, đẩy giá bán nhà tăng cao.
Ông Mẫn Ngọc Anh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Hanaka, cho rằng: "Khi tiền sử dụng đất và giá đất tăng cao, người dân càng khó tiếp cận đất ở. Vì vậy, cần định giá đất phù hợp, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân".
Theo định hướng sửa đổi Luật, Nhà nước sẽ quyết định giá đất trên cơ sở dữ liệu, phương pháp khoa học, công khai, minh bạch, kết nối liên thông dữ liệu đất đai và các dữ liệu chuyên ngành. Các địa phương đề xuất, để xác định giá đất, cần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và rút ngắn quy trình, thủ tục hành chính, tránh tình trạng kéo dài hàng năm mỗi lần giao đất hay chờ định giá đất.
Ông Phí Thanh Bình, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh, cho biết: "Tới đây sẽ phân cấp mạnh hơn cho chính quyền địa phương, đặc biệt cấp xã, trong điều chỉnh bảng giá đất và hệ số điều chỉnh linh hoạt, giúp cập nhật kịp thời biến động, phù hợp thực tiễn".
Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP Hồ Chí Minh, cho rằng: "Chúng tôi tin tưởng Luật Đất đai mới sẽ thúc đẩy phát triển, điều tiết thị trường bất động sản, góp phần kéo giảm giá nhà và tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền có chỗ ở".
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/14nn7CJvpkNhXlujz
Luật Đất đai năm 2024 (Luật số 31/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/8/2024) đã sửa đổi, toàn diện các quy định về thu hồi đất, phương thức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp khi thu hồi đất nông nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tiễn triển khai thực hiện các quy định của Hiến pháp và Luật đất đai năm 2024 đã bộc lộ một số bất cập, cần khắc phục trong thời gian tới.
1. Đặt vấn đề
Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước quản lý thống nhất (Điều 53 Hiến pháp). Nhà nước chỉ được thu hồi đất “trong trường hợp thật cần thiết” vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; đồng thời việc thu hồi đất “phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật” (Điều 54 Hiến pháp năm 2013). Điều 54 khoản 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ. Các nguyên tắc hiến định đối Các hoạt động thu hồi đất phải đảm bảo công khai, minh bạch, dân chủ, công bằng theo quy định của pháp luật. Luật Đất đai năm 2024 (Luật số 31/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/8/2024) đã sửa đổi, toàn diện các quy định về thu hồi đất, phương thức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp khi thu hồi đất nông nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tiễn triển khai thực hiện các quy định của Hiến pháp và Luật Đất đai năm 2024 đã bộc lộ một số bất cập, cần khắc phục trong thời gian tới.
2. Một số vấn đề trong bảo đảm quyền của người bị thu hồi đất nông nghiệp hiện nay tại Việt Nam
Thứ nhất, bất cập trong việc thực thi điều 91 Luật Đất đai năm 2024. Điều 91 quy định thứ tự quyền được bồi thường khi thu hồi đất như sau:
Một là, bồi thường bằng đất có cùng mục đích, nếu thu hồi đất nông nghiệp thì sẽ được bồi thường bằng đất nông nghiệp. Phương thức bồi thường bằng đất đảm bảo quyền có việc làm, tạo kế sinh nhai cho người nông dân, nhưng thực tế hiện nay ở các thành phố lớn không áp dụng phương thức bồi thường này.
Hai là, phương thức bồi thường bằng tiền được đa số các địa phương áp dụng, trong đó có các dự án trên địa bàn TP. Hà Nội. Đơn giá bồi thường bằng tiền còn thấp, chưa đủ để tạo việc làm mới phù hợp. Ví dụ: Đất nông nghiệp mặt đường, sát khu dân cư tại Thôn HB, xã VT, TP. Hà Nội, được bồi thường là 155.000 đồng/m2, kèm theo các khoản tiền hỗ trợ ổn định đời sống theo nhân khẩu. Hộ gia đình có nhiều nhân khẩu có lợi hơn hộ gia đình ít nhân khẩu.
Ba là, phương thức bồi thường bằng nhà ở. Về mặt lý thuyết và thực tiễn là khả thi, ví dụ có thể áp dụng theo công thức: thu hồi 5m2 đất nông nghiệp đổi được 1m2 nhà chung cư nằm chính ngay trong dự án có đất bị thu hồi. Tuy nhiên, trên thực tế hầu như chưa có địa phương nào áp dụng cách bồi thường bằng nhà ở khi thu hồi đất nông nghiệp.
Bốn là, phương thức bồi thường bằng đất có mục đích khác đối với đất nông nghiệp bị thu hồi, ví dụ thu hồi đất nông nghiệp được bồi thường bằng đất thương mại dịch vụ hoặc loại đất phi nông nghiệp khác. Phương thức này đã được áp dụng tại tỉnh Vĩnh Phúc (cũ), Hà Nội và một số địa phương, tùy từng dự án. Tuy nhiên, việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dịch vụ, thương mại thường kéo dài nhiều năm, có trường hợp phải mất 20 năm hoặc lâu hơn mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gây trở ngại cho việc tạo việc làm cho nông dân mất đất.
Như vậy, theo quy định tại điều 91 Luật Đất đai năm 2024, cơ quan có thẩm quyền phải lập 4 phương thức bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp để người dân có quyền lựa chọn một hoặc hai phương án phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của mình, nhưng trên thực tế các địa phương thường chủ yếu áp dụng một phương thức bồi thường bằng tiền. Bồi thường bằng tiền có ưu điểm là dễ thực hiện, nhanh gọn, nhưng có trường hợp khi người dân nhận tiền, hoặc thậm chí có người nhận cả “bao tải” tiền thì tiền đó mua xe hoặc tiêu xài không có kế hoạch, không tạo ra kế sinh nhai, hoặc phát sinh các vấn đề tiêu cực cho xã hội.
Đối với nhiều hộ gia đình sống hoàn toàn dựa vào sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là người trung niên hoặc người cao tuổi, dù nhận được một khoản tiền bồi thường cùng với khoản tiền hỗ trợ, nhưng việc chuyển đổi nghề nghiệp không dễ dàng trong thời đại công nghệ số. Sau khi nhận tiền bồi thường, nhiều hộ dân không có nguồn thu nhập ổn định, dẫn đến nguy cơ tái nghèo và mất sinh kế lâu dài. Như vậy, quyền được bảo đảm đời sống sau thu hồi đất trên thực tế vẫn chưa đạt được mục tiêu sống tốt hơn mà pháp luật hướng tới.
Thứ hai, bất cập về định giá đất nông nghiệp. Mặc dù, Luật Đất đai năm 2024 đã bãi bỏ khung giá đất và quy định bảng giá đất được xây dựng hằng năm nhằm tiệm cận giá thị trường (Điều 159). Có địa phương, bảng giá đất nông nghiệp thấp hơn hàng trăm lần so với đất ở. Điều này dẫn đến việc người bị thu hồi đất cảm thấy mức bồi thường chưa tương xứng với giá trị quyền sử dụng đất đã mất, trong khi nhà đầu tư có thể thu được giá trị gia tăng rất lớn sau khi chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp thành đất ở. Đây cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai kéo dài. Đất nông nghiệp không chỉ có giá trị quyền sử dụng đất mà còn tạo ra nguồn thu nhập ổn định từ hoạt động sản xuất. Việc định giá hiện nay chủ yếu dựa theo cách tính truyền thống, tức là dựa vào sản lượng lúa thu được trong một năm để tính tiền trong bảng giá đất nông nghiệp mà xét trên góc độ kinh tế, vẫn chưa lượng hóa đầy đủ về khả năng sinh lợi lâu dài; giá trị cây trồng, vật nuôi gắn với đất; giá trị đầu tư cải tạo đất; giá trị hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng kết hợp du lịch nông nghiệp; lợi thế vị trí và điều kiện sản xuất trong thời đại nông nghiệp 4.0 hiện nay. Do đó, giá trị kinh tế thực tế của đất nông nghiệp chưa được phản ánh đầy đủ trong giá đất. Ngoài ra, đất nông nghiệp còn mang giá trị sinh thái môi trường, giá trị văn hóa của cộng đồng, giá trị an sinh xã hội, cũng chưa được lượng tính đầy đủ trong giá đất.
Thứ ba, việc lấy ý kiến người dân trong quá trình thu hồi đất một số nơi còn mang tính hình thức, thiếu công khai. Luật Đất đai năm 2024 quy định, cơ quan có thẩm quyền phải công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và lấy ý kiến người dân trước khi ra quyết định phê duyệt. Tuy nhiên, trên thực tế, việc lấy ý kiến ở một số địa phương vẫn chủ yếu nhằm hoàn thiện thủ tục hành chính, chưa tạo điều kiện để người dân tham gia thực chất vào quá trình xây dựng phương án bồi thường. Ý kiến của người dân thường không được cân nhắc đầy đủ và được tiếp thu một cách minh bạch. Điều này làm giảm tính đồng thuận xã hội và ảnh hưởng đến quyền tham gia quản lý nhà nước của người sử dụng đất. Khi không đồng ý với quyết định thu hồi đất hoặc phương án bồi thường, người dân có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Nhưng việc giải quyết khiếu nại, khiếu kiện trên thực tế thường kéo dài, không mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân, trong khi việc thu hồi đất vẫn được triển khai bằng các quyết định hành chính và phải thực hiện trong một thời gian ngắn.
Thứ tư, Điều 26 Luật Đất đai năm 2024 quy định về quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Việc cho phép góp vốn bằng quyền sử dụng đất nhằm khuyến khích tập trung, tích tụ đất đai, tạo điều kiện để người dân không bị mất đất, tham gia tích cực vào quá trình đầu tư, sản xuất, kinh doanh, phù hợp với chủ trương tại Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất là một nội dung quan trọng trong việc bảo đảm quyền người dân bị thu hồi đất trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước chưa được triển khai thực hiện đầy đủ trên thực tiễn.
3. Đề xuất một số giải pháp để bảo đảm quyền của người có đất nông nghiệp bị thu hồi đất trong thời gian tới
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất nông nghiệp, hệ thống pháp luật và cơ chế thực thi cần được hoàn thiện theo hướng minh bạch, công bằng và tôn trọng nguyên tắc đồng thuận xã hội, cụ thể qua các giải pháp sau:
Thứ nhất, Quốc hội cần thiết ban hành một “Nghị quyết chuyên đề” về thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư làm cơ sở áp dụng trong phạm vi cả nước và làm căn cứ sửa đổi Luật Đất đai trong thời gian tới.
Thứ hai, khi chưa có “Nghị quyết chuyên đề” của Quốc hội về thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư thì các cơ quan ở Trung ương cần chỉ đạo các địa phương tuân thủ nghiêm chỉnh quy định tại điều 91 Luật Đất đai năm 2024 về triển khai đầy đủ 4 phương thức bồi thường, tạo điều kiện cho người bị thu hồi đất có quyền lựa chọn phương thức bồi thường phù hợp nhất với điều kiện, hoàn cảnh của mình.
Thứ ba, cần định giá đất nông nghiệp đúng với giá trị thực và theo chuẩn mực quốc tế, dựa trên nguyên tắc thị trường và sử dụng phương pháp vốn hóa thu nhập thay vì chỉ nhìn vào giá hành chính, đồng thời tăng cường tính độc lập của tổ chức tư vấn định giá. Định giá đúng không chỉ bảo vệ nông dân mà còn giúp tối ưu hóa thuế và bồi thường. Nhiều quốc gia coi đất ở là tiêu sản, còn đất nông nghiệp là tài sản, vì nó tạo ra thu nhập hàng ngày, có khả năng tạo ra dòng tiền trong tương lai dựa trên các mô hình canh tác hiện đại, thông minh. Luật Đất đai chuẩn bị sửa đổi cần quy định nguyên tắc về bồi thường phải tương xứng với thiệt hại xảy ra, gồm cả thiệt hại về giá trị kinh tế, giá trị tinh thần của người nông dân như văn hóa cộng đồng, bản sắc văn hóa, dân tộc, giá trị tâm linh, tôn giáo. Chính vì vậy, cần xây dựng cơ chế xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất dựa trên các quy định pháp luật dân sự. Trường hợp thu hồi đất vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia nên áp dụng Luật trưng mua quyền sử dụng đất.
Thứ tư, đối với các dự án thương mại cần có chính sách chia sẻ lợi ích giữa nhà đầu tư, Nhà nước và người nông dân bị thu hồi đất, sau khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp giá rẻ thành đất thương mại giá đắt. Một trong những bất cập lớn hiện nay là người bị thu hồi đất chỉ nhận khoản bồi thường giá thấp một lần, trong khi giá trị quyền sử dụng đất sau khi chuyển sang đất ở hoặc đất thương mại tăng lên nhiều lần. Phần lớn giá trị gia tăng này thuộc về nhà đầu tư hoặc Nhà nước thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, hoặc bán các sản phẩm thương mại. Trong thời gian tới, cần triển khai cơ chế góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất nông nghiệp để triển khai các dự án, trong đó người nông dân là một chủ đầu tư góp vốn bằng đất thông qua quỹ phát triển cộng đồng, cổ phần dự án. Nhà nước cần đổi mới chính sách hỗ trợ sinh kế theo hướng hỗ trợ việc làm thực chất thông qua việc bồi thường bằng đất tương ứng, hay còn gọi là đất đổi đất; mở rộng các chương trình tín dụng ưu đãi và hỗ trợ khởi nghiệp cho người bị thu hồi đất.
Thứ năm, cần triển khai áp dụng có hiệu quả quy chế dân chủ tại cơ sở từ khâu quy hoạch sử dụng đất đến khi thu hồi đất và bồi thường về đất theo nguyên tắc "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát". Địa phương nào đã và đang làm tốt thì cần tiếp tục phát huy, địa phương nào còn thiếu sót thì phải nghiêm chỉnh tuân thủ việc công khai, minh bạch thửa đất từ khâu quy hoạch chi tiết đến chủ trương, kế hoạch thu hồi, chính sách bồi thường và phương án tái định cư tại trụ sở UBND cấp xã và điểm sinh hoạt khu dân cư hoặc trên các cổng thông tin chính thống. Người dân được quyền thảo luận, đóng góp ý kiến về quy hoạch sử dụng đất, phương án bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư để đảm bảo thu nhập bằng hoặc tốt hơn nơi cũ. Dân có quyền đề xuất sáng kiến, tham gia ý kiến, bàn và quyết định đối với các nội dung của quy hoạch sử dụng đất, nội dung của phương án bồi thường. Dân có quyền giám sát thông qua sự tham gia của đại diện Mặt trận Tổ quốc và đại diện người có đất thu hồi vào Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để kiểm tra việc đo đạc, kiểm đếm và chi trả tiền bồi thường diễn ra đúng luật
Thứ sáu, cần đổi mới tư duy về quy hoạch theo hướng đô thị đa mục tiêu, đa loại đất được sử dụng trong một khu vực nhất định. Có nghĩa là, ngay từ khi lập quy hoạch, Nhà nước phải quy hoạch các khu sản xuất nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp đô thị cạnh khu nhà ở cao tầng để đền bù cho nông dân. Ví dụ, thu hồi đất của các hộ dân sản xuất nông nghiệp thì Nhà nước đền bù đất tại khu sản xuất nông nghiệp sinh thái, áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn với quy mô nhỏ giống như làng trong đô thị tại Sóc sơn, Mê Linh, Đông Anh... Khu đất sản xuất nông nghiệp này vừa tạo việc làm cho nông dân, vừa tạo cảnh quan xanh, môi trường bền vững, kết hợp du lịch sinh thái và nhà dưỡng lão.
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/BdJRFpd6Ae4D68vv7
Bạn đọc Nguyễn Long (Hà Nội) hỏi: “Căn cứ để được công nhận đất ở khi thực hiện thủ tục cấp sổ đỏ theo quy định hiện hành là gì?”.
Trả lời bạn đọc Báo Lao Động, Luật sư Quách Thành Lực - Giám đốc Công ty Luật Pháp Trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, trường hợp người sử dụng đất đã có giấy tờ theo quy định tại Điều 137 Luật Đất đai, vấn đề cần quan tâm là căn cứ nào để xác định diện tích được công nhận là đất ở khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo luật sư, việc xác định diện tích đất ở có ý nghĩa quan trọng bởi ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, trong đó có quyền xây dựng nhà ở và nghĩa vụ tài chính phải thực hiện khi được công nhận đất ở.
Điều 137 Luật Đất đai quy định các trường hợp, giấy tờ làm căn cứ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, điều luật này không quy định cụ thể diện tích được công nhận là đất ở cũng như số tiền sử dụng đất phải nộp.
Để xác định diện tích đất ở được công nhận, người dân cần căn cứ Điều 141 Luật Đất đai. Theo luật sư, Điều 141 được thiết kế để bổ trợ cho các trường hợp có giấy tờ quy định tại Điều 137, qua đó làm rõ diện tích được công nhận là đất ở.
Đối với giấy tờ theo Điều 137 được lập trước ngày 15.10.1993, nếu trên giấy tờ ghi là đất ở, đất thổ cư hoặc đất khu dân cư lâu dài nhưng không xác định cụ thể diện tích đất ở thì cần căn cứ Khoản 1 hoặc Khoản 2 Điều 141 để xác định.
Theo đó, trường hợp đất được sử dụng trước năm 1980 thì diện tích đất ở được xác định theo hạn mức công nhận đất ở. Trường hợp đất được sử dụng từ năm 1980 đến trước ngày 15.10.1993 thì diện tích đất ở được xác định theo hạn mức giao đất ở.
“Đây là những quy định người dân có thể căn cứ để xác định diện tích đất ở được công nhận”, luật sư Quách Thành Lực cho biết.
Đối với trường hợp có quyết định giao đất, phân cấp đất từ ngày 15.10.1993 đến nay, loại đất được xác định theo nội dung ghi trên giấy tờ.
Sau khi xác định diện tích đất ở theo Khoản 1, Khoản 2 Điều 141, nếu vẫn còn phần diện tích nằm ngoài diện tích đã được xác định thì phần diện tích này sẽ được xem xét theo hiện trạng sử dụng đất. Trường hợp này, người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất theo quy định.
Theo luật sư Quách Thành Lực, thực tế còn có trường hợp giấy tờ được lập trước ngày 15.10.1993 ghi là đất nông nghiệp nhưng trên đất đã xây dựng nhà ở từ lâu. Đây là trường hợp nếu chỉ căn cứ Điều 141 thì chưa giải quyết được toàn bộ vấn đề.
Luật sư cho biết, trong thực tế, những trường hợp này có thể được cơ quan chức năng xác định là sử dụng đất có vi phạm, từ đó yêu cầu người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính, nộp lại số lợi bất hợp pháp, thậm chí xử lý công trình vi phạm.
Tuy nhiên, theo luật sư, Điều 10 Luật Đất đai và Điều 7 Nghị định 101/2024/NĐ-CP đã có quy định đối với trường hợp này.
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/WqmlvOHlldIoOGd5j
Nguồn: Người Quan Sát; 24h; VOV; Luật Sư Việt Nam; Lao Động
Bất động sản thay đổi lớn; Chia đất đai thừa kế; Hỗ trợ thu hồi đất nông nghiệp; Chính sách đặc thù; Quy định mới về thẻ căn cước
Cấp sổ đỏ từng phần đất nghĩa trang; Đính chính sổ đỏ & đăng ký biến động; Cấp đổi sổ đỏ và sang tên thừa kế; Xác định lại hạn sử dụng đất ao sổ đỏ cũ; Luật Báo chí
Cấp sổ đất có nguồn gốc lấn, chiếm; Giảm tiềm sử dụng đất tặng con; Giao dịch online bị ngân hàng từ chối; Điều kiện lối đi tách thửa; Mất tiền cọc vì một yêu cầu
Chính sách mới có hiệu lực; Cấp sổ đỏ đất giao khoán; Xây nhà trên đất nông nghiệp; Thông báo giao dịch nội dung sau; Phạt tiền các giao dịch nhận/chuyển tiền sau
Xử lý nhà dân xây trên đất nông nghiệp thuộc thẩm quyền cấp xã; Quy định mới cấp thẻ Căn cước; Xây nhà cấp 4 không phép bị đình chỉ; Doanh nghiệp bị thu hồi đất vì không sử dụng
3 việc nên làm Rằm tháng 7; Chính sách thu hồi đất đô thị đặc biệt; Cấp sổ đỏ đất mua bằng giấy viết tay; Lưu ý người sở hữu bất động sản; Chuyển đất nông nghiệp lên thổ cư
Người có Căn cước công dân chú ý; Xử lý đất sử dụng làm nhà ở từ 1980; Người có bất động sản chú ý; Làm gì khi hàng xóm lấn chiếm đất; Miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Thuê đất tầng hầm chung cư vượt diện tích; Giao dịch tiền số sai bị phạt; Chia tài sản thừa kế; Chuyển đất nông nghiệp lên đất thổ cư; Cấp sổ đỏ đất khai phá
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá